Chú ý : Đây là thông tin về 1 vị trưởng lão có trong Tiểu bộ kinh , trưởng lão kệ : Yasoja . Vì chỉ có 1 vị tên như vậy không biết có chính xác là vị ở top 80 đệ tử Phật , nhóm bên trái không.

I. Giới thiệu chung

Theo 1 số nguồn thì  Tôn giả Yasoja – thanh niên đệ tử của Bà-la-môn khổ hạnh Bāvari.

The Palikanon.com

https://www.palikanon.com/english/pali_names/y/yasoja.htm

He was born outside the gates of Sāvatthi in a fishing village, where his father was the headman of five hundred families. When he came of age, he was fishing one day in the Aciravatī, and, casting his net, caught a large golden colour fish. Yasoja and his companions took the fish to Pasenadi who sent them to the Buddha. The Buddha told them that the fish had been a wicked monk in the time of Kassapa Buddha, and had since suffered in purgatory, where his mother and sisters still were. He then preached to them the Kapila Sutta, and Yasoja and his companions, greatly moved, renounced the world (ThagA.i.356f.).

The Udāna mentions (Ud.iii.3) how, later, Yasoja and five hundred of his companions went to see the Buddha at Jetavana. There they stood talking to the monks who lived there and made a great uproar. The Buddha, sending Ananda to fetch them, asked them to remove themselves from his presence, as they were behaving like fishermen. Taking his admonition to heart, they returned to the banks of the Vaggumudā in the Vajji country, and there they determined to lead such lives as would commend them to the Buddha. During the rainy season, they all put forth effort and attained arahantship. Some time after, the Buddha visited Vesāli during a journey and asked Amanda to send for Yasoja and his friends as he desired to see them. Ananda sent a message. When the monks arrived, they found the Buddha lost in meditation, and they, too, seated themselves and entered into samādhi, remaining thus throughout the night. Amanda could not understand why the Buddha, having sent for Yasoja and his companions, should have sunk into samādhi without greeting them, and three times during the night he tried to remind the Buddha of their arrival; but the Buddha ignored his warnings and in the morning explained to him that it was more joy for them all to live in the bliss of samādhi than to indulge in mere conversation. It is said in UdA.185 that the Buddha spent the night in samādhi in order to show Yasoja and his companions that he regarded them as equals.

It is said (ThagA.i.357) that when Yasoja and the others visited the Buddha at Vesāli, they were very thin and had grown uncomely through their austerities. The Buddha commended their self denial in a verse, and Yasoja, appreciating the Buddha’s praise, uttered two other verses, exalting the love of solitude (Thag.243 5).

In the time of Vipassī Buddha Yasoja belonged to a family of park-keepers (ārāmagopakā), and one day seeing the Buddha travel through the air, he gave him a labuja fruit (ThagA.i.356). In the time of Kassapa Buddha, Yasoja was the leader of a band of five hundred robbers. They were pursued by the villagers and fled into the forest for safety. There they saw a monk sitting on a stone and asked him for protection. He advised them to take the five precepts, and when they had done so, he exhorted them never to violate these precepts even if keeping them meant the loss of their lives. Soon after, they were captured and killed. But remembering the monk’s admonition at the moment of death, they harboured no hatred against anyone, and after death were reborn in the deva world (UdA.179f).

The Vinaya relates (Vin.i.239) how once, when Yasoja was ill, drugs were brought for his use, but as the Buddha had forbidden the use of a special place for storing such things (kappiyabhūmi) they were left out of doors and were partly eaten by vermin, the remainder being carried away by robbers. When the matter was reported to the Buddha, he allowed the use of a duly chosen kappiyabhūmi. The Apadāna verses ascribed to Yasoja in the Theragāthā are, in the Apadāna itself, found in two places: one under Labujadāyaka (Ap.ii.409) and the other, with slight variations, under Labujaphaladāyaka. Ap.i.295.

Ông sinh ra bên ngoài cổng Sāvatthi trong một làng chài, nơi cha ông là chủ gia đình của năm trăm gia đình. Khi ông trưởng thành, một ngày nọ, ông đang đánh cá ở Aciravatī, và giăng lưới, bắt được một con cá lớn có màu vàng kim. Yasoja và những người bạn của anh ta đã mang con cá đến Pasenadi, người đã gửi chúng cho Đức Phật. Đức Phật nói với họ rằng con cá là một nhà sư gian ác vào thời Đức Phật Kassapa, và từ đó đã phải chịu đựng trong luyện ngục, nơi mẹ và các chị em của ông vẫn còn ở. Sau đó, ông giảng cho họ Kinh Kapila, và Yasoja và những người bạn của ông, rất xúc động, từ bỏ thế giới (ThagA.i.356f.).

Udāna đề cập đến (Ud.iii.3), sau đó, Yasoja và năm trăm người bạn đồng hành của mình đã đến gặp Đức Phật tại Jetavana như thế nào. Ở đó, họ đứng nói chuyện với các nhà sư sống ở đó và gây náo động lớn. Đức Phật sai Ananda đến đón họ, yêu cầu họ rời khỏi sự hiện diện của Ngài, vì họ đang cư xử như những người đánh cá. Ghi nhớ lời khuyên của ông, họ quay trở lại bờ Vaggumudā ở nước Vajji, và ở đó họ quyết tâm sống những cuộc đời như vậy để khen ngợi họ với Đức Phật. Trong mùa mưa, tất cả họ đều nỗ lực và chứng đắc quả vị A-la-hán. Một thời gian sau, Đức Phật đến thăm Vesāli trong một cuộc hành trình và yêu cầu Amanda gửi cho Yasoja và những người bạn của ông ấy như ông ấy muốn gặp họ. Ananda đã gửi một tin nhắn. Khi các nhà sư đến nơi, họ thấy Đức Phật đang chìm trong thiền định, và họ cũng vậy, tự ngồi và nhập định, như vậy suốt đêm. Amanda không thể hiểu tại sao Đức Phật, đã cử Yasoja và những người bạn đồng hành của ông, lẽ ra phải chìm vào định mà không chào họ, và ba lần trong đêm, ông đã cố gắng nhắc nhở Đức Phật về sự xuất hiện của họ; nhưng Đức Phật đã phớt lờ những lời cảnh báo của ông và vào buổi sáng giải thích cho ông rằng tất cả họ được sống trong hạnh phúc của samādhi là niềm vui sướng hơn là chỉ say mê trò chuyện. Người ta nói trong UdA.185 rằng Đức Phật đã qua đêm trong nhập định để chứng tỏ cho Yasoja và những người bạn đồng hành của Ngài rằng Ngài coi họ như nhau. và ba lần trong đêm, ông cố gắng nhắc nhở Đức Phật về sự xuất hiện của họ; nhưng Đức Phật đã phớt lờ những lời cảnh báo của ông và vào buổi sáng giải thích cho ông rằng tất cả họ được sống trong hạnh phúc của samādhi là niềm vui sướng hơn là chỉ say mê trò chuyện. Người ta nói trong UdA.185 rằng Đức Phật đã qua đêm trong nhập định để chứng tỏ cho Yasoja và những người bạn đồng hành của Ngài rằng Ngài coi họ như nhau. và ba lần trong đêm, ông cố gắng nhắc nhở Đức Phật về sự xuất hiện của họ; nhưng Đức Phật đã phớt lờ những lời cảnh báo của ông và vào buổi sáng giải thích cho ông rằng tất cả họ được sống trong hạnh phúc của samādhi là niềm vui sướng hơn là chỉ say mê trò chuyện. Người ta nói trong UdA.185 rằng Đức Phật đã qua đêm trong nhập định để chứng tỏ cho Yasoja và những người bạn đồng hành của Ngài rằng Ngài coi họ như nhau.

Người ta nói rằng (ThagA.i.357) rằng khi Yasoja và những người khác đến thăm Đức Phật tại Vesāli, họ rất gầy và đã phát triển một cách bất thường nhờ sự tu hành của họ. Đức Phật khen ngợi sự phủ nhận bản thân của họ trong một bài kệ, và Yasoja, cảm kích trước lời khen ngợi của Đức Phật, đã thốt ra hai câu thơ khác, đề cao tình yêu của sự cô độc (Thag.243 5).

Vào thời Vipassī, Đức Phật Yasoja thuộc về một gia đình làm công viên (ārāmagopakā), và một hôm thấy Đức Phật du hành trong không trung, Ngài đã ban cho Ngài một quả labuja (ThagA.i.356). Vào thời Đức Phật Kassapa, Yasoja là thủ lĩnh của một băng cướp năm trăm tên. Họ bị dân làng truy đuổi và chạy trốn vào rừng cho an toàn. Ở đó, họ nhìn thấy một nhà sư đang ngồi trên một phiến đá và cầu xin ngài bảo vệ. Ngài khuyên họ nên thọ năm giới, và khi họ đã làm như vậy, Ngài khuyên họ đừng bao giờ vi phạm những giới luật này ngay cả khi việc giữ chúng có nghĩa là mất mạng. Ngay sau đó, họ bị bắt và bị giết. Nhưng ghi nhớ lời khuyên của nhà sư vào lúc chết, họ không có lòng thù hận với bất kỳ ai, và sau khi chết được tái sinh trong thế giới deva (UdA.179f).

Luật tạng kể lại (Vin.i.239), khi Yasoja bị ốm, người ta mang thuốc đến để sử dụng như thế nào, nhưng vì Đức Phật đã cấm sử dụng một nơi đặc biệt để cất giữ những thứ đó (kappiyabhūmi) nên họ đã bị bỏ ngoài cửa. và một phần bị sâu bọ ăn thịt, phần còn lại bị cướp mang đi. Khi sự việc được báo cáo với Đức Phật, ngài cho phép sử dụng một kappiyabhūmi được chọn lựa hợp lệ. Các câu Apadāna được ghi cho Yasoja trong Theragāthā, trong chính Apadāna, được tìm thấy ở hai nơi: một dưới Labujadāyaka (Ap.ii.409) và một, với những biến thể nhỏ, dưới Labujaphaladāyaka. Ap.i.295.

II. Trưởng lão kệ – Tiểu bộ kinh Nikaya

Trong thời đức Phật hiện tại, ngài sanh tại cửa thành ở Sàvatthi, trong một làng người đánh cá, con vị chủ hộ năm trăm gia đình đánh cá và được gọi là Yasoja. Ðến tuổi trưởng thành, một hôm ngài đánh cá với những người con các người đánh cá trên sông Aciravati, quăng lưới, ngài bắt được con cá lớn có màu sắc vàng. Họ dâng con cá lên vua Pasenadi và vua nói chỉ có đức Phật mới biết nguyên nhân, màu sắc của con cá. Ðức Phật dạy, tiền thân con cá là một ác Tỷ-kheo trong thời đức Phật Ca-diếp, nay vẫn đang sống trong cõi địa ngục. Các chị của nó vẫn sống trong địa ngục, Chỉ có anh nó là vị Trưởng lão, sống đời sống tốt đẹp, và Thế Tôn thuyết pháp về kinh Kapila. Nghe xong, Yasoja cảm thấy xúc động và xin xuất gia, và các bạn cũng xin xuất gia theo; họ đi đến tinh xá Jetavana (Kỳ Viên) để yết kiến đức Phật, nhưng khi đến họ làm quá ồn ào nên bị Thế Tôn đuổi đi. Bị đuổi, và sống trên sông Vaggumudà, Yasoja như con người thuần thục, quyết tâm quyết chí tu trì, không bao lâu chứng được sáu thắng trí. Rồi Thế Tôn cho gọi Yasoja, và ngài vì tu khổ hạnh đặc biệt, nên ốm yếu, xấu xí. Thế Tôn tán thán hạnh tu khắc khổ của ngài với những bài kệ như sau:
242. Một người đen, gầy mòn,
Yếu ốm đầy đường gân,
Tiết độ trong ăn uống,
Tâm tư không ưu não.
Yasoja được tán thán như vậy, đề cao hạnh cô độc và dạy như sau:
243. Trong rừng núi rộng lớn,
Bị muỗi ruồi đốt cắn,
Như con voi lâm trận,
Ta chánh niệm chịu đựng.
244. Sống một, như Phạm thiên,
Sống hai, như chư Thiên,
Sống ba, như làng mạc,
Nhiều hơn, như ở chợ.

III. https://tipitaka.fandom.com/wiki/Thera_3.9:_Yasoja

Chapter III.
 three Verses

178. Yasoja

Reborn in this Buddha-age at the gate of the city of Sāvatthī in a fisher’s village, as the son of the headman of the 500 fishermen’s families, he was called Yasoja. Come of age, he was one day fishing with the fishermen’s sons in the River Aciravatī. And casting his net, he caught a great gold-coloured fish. They showed it to King Pasenadi(Prasenajit), who said: ‘The Exalted One(Buddha) will know the cause of the fish’s colour.’ And the Exalted One(Buddha) told them that the fish had, in Kassapa Buddha’s time, been a wicked bhikkhu, who had since then suffered in hell; that his sisters were still there, but that his brother as Thera had perfected life; and then for their good he taught the Kappila Sutta.[1]

Upon that Yasoja in deep emotion renounced the world, and his companions with him. Of his going with them to wait on the Exalted One(Buddha) at the Jeta-Vana, and of their dismissal because of the noise they made on arriving, the record stands in the Udāna.[2] Dismissed, and living on the banks of the River Vaggumudā, Yasoja, like a highbred horse, his mettle stirred, strove and toiled till he acquired sixfold abhiññā(higher knowledge). Thereafter the Exalted One sent for him. And he, from practising all the special austerities,[3] was emaciated and uncomely. Then the Exalted One commended his self-denial in this verse:


[243] Kāḷapabbaŋgasaŋkāso kiso dhamanisanthato,||
Mattaññū annapānamhi adīnamanaso naro.|| ||

[244] Phuṭṭho [31] ḍaɱsehi makasehi araññasmiɱ brahāvane,||
Nāgo saŋgāmasīseva sato tatrādhivāsaye.|| ||

[245] Yathā brahmā tathā eko yathā devo tathā duve,||
Yathā gāmo tathā tayo kolāhālaɱ tatuttarinti.|| ||


[243] Lo! here a man with frame so pale and worn;
Like knotted stems of cane his joints, and sharp
The emaciated network of his veins.
In food and drink austerely temperate,
His spirit neither crushed nor desolate.

[167] And Yasoja so commended, praised the love of solitude, and taught doctrine thus:

[244] In the great forest, in the mighty woods,
Touched though I be by gadfly and by gnat,
I yet would roam, like warrior-elephant
In van of battle, mindful, vigilant.[4]

[245] Alone a man is even as Brahma(ArchAngel).
And as the angels if he have one mate.
Like to a village is a group of three.
Like to a noisy crowd if more there be.


[1] I cannot identify this Sutta.

[2] Udāna, iii., Ī 8. In that work it is interesting, in view of the Thera’s legend, that the Lord(Buddha), when rebuking Yasoja’s followers, compares them to noisy fishermen.

[3] These were not the self-inflicted tortures of Indian ascetics, but the Dhutangas, all of which are given in the Milinda, ii., bk. vi.

[4] = XXXI.


3.9 [178] Commentary on the stanza of Yasojatthera

The stanza starting with Kālapabbaṅgasaṅkāso constitutes that of the venerable Thera Yasoja. What is the origin? This one also having done devoted deeds of service toward former Buddhas, accumulating acts of merit in this and that existence, was reborn in the family of a custodian of monastery (āramagopaka), at the time of the Blessed One Vipassī; on having attained the age of intelligence, he happened to have seen, one day, the Blessed One Vipassī soaring up in the sky, became pious-minded and offered bread fruit (lābujaphala) to Him.

On account of that act of merit, he wandered about his rounds of repeated rebirths among divine and human-beings, and was reborn as the son of a fisherman, who was the eldest of five hundred families in a fishing village at the gate of the city of Sāvatthi; they gave him the name Yosaja. On having come of age he threw the net in the river Aciravatī for the purpose of catching fish along with sons of fishermen, who were his associates. There a gold-coloured large fish entered inside the net. They showed it to king Pasenadī. The king, saying to himself; “The Blessed One knows the cause of the colour of the gold-coloured fish,” had the fish held and showed it to the Blessed One. The Blessed One said thus:– “This One, having become a monk, in the dispensation of the well self-awakened Buddha Kassapa when it was waning (osakkamāha), regulating his life (paṭipajjanto) wrongly (micchā), made the dispensation (sāsanā) move back (osakkāpeti), and was reborn in purgatory and having been cooked in purgatory for an interval of a Buddha (ekaṃ Buddhantaraṃ) he passed away from there and  came to be reborn as a fish in the river Aciravatī,” made but that fish speak of the state of it’s sister’s having sprung up in purgatory as well as the condition of it’s brother. Thera’s having entered parinibbāna and taught Kapilasutta for the sake of an annecdote of this one.

After having heard the teaching of the Master, Yasoja became remorseful, became a monk, along with his own associates in the presence of the Master, and dwelling at a suitable site, he, one day, went with his assembly to Jetavana in order to pay his homage to the Blessed One. Over his arrival, there was a loud noise and great sound in the monastery with preparations of seats and beds and so on. On having heard it “The Blessed One dismissed (paṃāmesi) Yasoja along with his crowd;” thus, all about it should be understood in the manner as had come in the Udāna. Having, however, been dismissed, the venerable Yasoja became remorseful-minded, resembling an excellent well-bred horse, specially struck with a whip, dwelt together with his assembly on the shore of the river Vaggumudāya, striving and exerting, increasingly developed spiritual insight (vipassanā) and became an Arahant with six sorts of super knowledge but during the lent (vassa). Hence, has it been said in the Apadāna:–

“In the city of Bandhumatī, I was

then a custodian of an ashram (ārāmika).

I saw the stainless Buddha soaring

straight up into the sky. Having

brought bread fruit along with me,

I offered it to Buddha, the best,

full of fame who accepted it while still

having stood but in the sky.

There was to me good promotion of

prosperity (wittisaṅ janano) bringing

bliss immediately (diṭṭhadhammasukhavāho),

after I had offered the fruit to Buddha

with clearly devout heart.

I did gain then bountiful zest and

the most excellent happiness; to me

as I was born here and there, gem

jewel but sprang up.

It was ninety one aeons (kappa) ago,

that I then offered the fruit; I do

not remember any evil existence; this

is the fruitful result of fruit-offering

(phaladāna)

My depravity had been burnt. …

Buddha’s instruction had been carried

out.”

The Master sent for the venerable Yosoja together with his crowd, on his having being an Arahant with six sorts of higher-knowledge (abhiñña) and held conversation with him in connection with such proper attainment (samāpatti) of jhāna which remains static (āneñja). He carried out after having taken upon himself all the acts of austerity (dhutaṅga dhamma) also. On that account his body was thin, shabby and ugly. The Blessed One spoke the first stanza praising that absolute meagreness of desire.

213. “Sections of bodily limbs look black,

thin and spread over with veins; the

man understands his limit in his eating

and drinking and is free from being lazy-

minded.”

There, kālapabbaṅga saṅkāso means: his limbs (aṅga) are like the joints (pabba) of dental (danti) creeper (latā), owing to thin, deformed (dusaṇṭhita) details (avayava) of his body, due to disappearance (vigamana) of integration (upacaya) of flesh; therefore, he said; “Kiso dhamani samthato.” Kiso means: thin in body owing to his fulfilling of the proper practice of moneyya austerity; dhamanisanthato means: with his body diffused (vitata), with prominent (pākaṭī) sinews (kaṇḍara) and viens (sirā) because of meagre flesh and blood; with his body (gatta) spread with veins. Mattaññā means: knows his quantity (pamāṇaññū) in seeking, accepting, making use (paribhoga) and giving out (vissajjana). Adīnamānaso means: one who is of detached (alāna) mind and alertful behaviour (akusitavutti). Naro means a man; a man of endurance (dhorayho), endowed with manly marks (lakkhaṇa) because of bearing (vāhana) of man’s burden (dhura); thus, is the significance.

The Thera, being praised by the Master, in this manner, spoke two stanzas, in order to teach the truth (dhamma) to the monks, by way of (mukhena) announcing to them his own endurance (adhivāsana), forbearance (khantī), exertion and his special delight in solitude, commensurate with the condition of being praised.

244. “Bitten by mosquitoes and gad-flies

in the forest wild wood, I was well

aware exercising my forbearance there

like unto an elephant at the head of

the battle-field.

245. “According as the brahmā, likewise

alone; according as a divine-being

likewise two (of us monks); according

as the village (monastery) likewise

three (of us monks); I was beyond that

quarrel (kolāhala, uproar).

There, Nāgo saṅgāmasīse va means: according as a well-bred (ājāneyyo) bull-elephant in the fighting field (yuddhammaṇḍala) after having endured the striking with swords, spear (satti), lances (tomara) and so on, crushes (viddhaṃseti) the army of the enemy (parasenaṃ); araññasmiṃ brahāvane means: in the same way, a monk (dispels) the dangers of mosquitoes and so on in the forest; Sato means: one should endure by being thoughtful (sampajāno); having so endured also, one should crush the army of Māra by means of the vigour of meditation (bhābanā).

Yathā brahmā means: he lives with bliss but always enjoying the bliss of jhāna free from (rahito) mental fury (pakopo), all alone according as a brahmā; tathā eko means: a monk also likewise lives happily all alone without any companion, enjoying (anubrūhanto) the bliss of seclusion. Indeed, it has been said; “The happiness of monkhood of a single individual is noble (paṇīta).” By means of this he gives instruction thus; a monk who dwells singly is “Brahmasamo (similar to brahmā).” Yathā devo tathā duve means: according as there might be mental fury in-between (antarantarā) divine beings, likewise in the dwelling together of two monks, there might be a crash also; thus, it has been said thus: a monk is “Devasamo” (similar to a divine-being) by his dwelling with a companion. Yathā gāmo tathā tayo means: there is no dwelling in seclusion; the living together of three monks which is similar to dwelling in a village, in that very text (pāṭha); thus, is the significance. Kolāhalaṃtatuttariṃ means: living together of many, above and beyond those three resembles the meeting of multitude of men making an uproar (kolāhalaṃ) involving noisy sound and great sound; therefore, there should by singly dwelling all alone; thus, is the significance.

The Commentary on the stanza of the Thera Yasoja is complete.

Sách điển từ Online – Thời Phật tại thế Tâm Học 2022 : một cuốn sách dạng webs , sưu tầm các tài liệu về Cuộc đời Đức Phật , câu chuyện tại thế và tiền kiếp. Ngoài ra sách còn tra cứu những người và cuộc đời của người đó cùng thời Phật tại thế

Hits: 0

Post Views: 39