Thông tin có thể chưa chính xác , chỉ có giá trị tham khảo

I. Giới thiệu chung

Trưởng lão Vacchagotta – thánh đệ tử nổi tiếng với nhiều bài kinh (Nikaya) .

Từ Palikanon

https://www.palikanon.com/english/pali_names/va/vacchagotta.htm

1. Vacchagotta. A Paribbājaka, who later became an arahant Thera. Several conversations he had with the Buddha are mentioned in the books. For details see the Tevijja Vacchagotta-, Aggi Vacchagotta-, Mahā Vacchagotta-, Vaccha- and Vacchagotta-Suttas. Some of these suttas are quoted in the Kathāvatthu (E.g., p. 267, 505). The Samyutta Nikāya contains a whole section on Vacchagotta; his discussions were chiefly concerned with such mythical questions as to whether the world is eternal, the nature of life, the existence or otherwise of the Tathāgata after death, etc. S.iii.257ff.; see also S.iv.391ff., for several discussions of Vacchagotta with Moggallāna, Ananda and Sabhiya Kaccāna on similar topics. The three Vacchagotta Suttas of the Majjhima Nikāya seem to contain the story of Vacchagotta’s conversion, in due order: at the conclusion of the Tevijja Vacchagotta (No. 72) it is merely stated that “the Paribbājaka Vacchagotta rejoiced in what the Blessed One has said.” At the end of the next, the Aggi Vacchagotta, he is mentioned as having accepted the Buddha as his teacher. In the third, the Mahā Vacchagotta, he seeks ordination from the Buddha at Rājagaha, and receives it after the requisite probationary period of four months. He returns to the Buddha after two weeks and tells him that he has attained all that is to be attained by a non arahant’s understanding and asks for a further exposition of the Doctrine. The Buddha tells him to proceed to the study of calm and insight, whereby sixfold abhiññā may be acquired. Vacchagotta profits by the lesson and soon after becomes an arahant. He thereupon sends news of his attainment to the Buddha through some monks, and the Buddha says he has already heard the news from the devas (M.i.493 97).

This story definitely identifies the Paribbājaka with the Thera of the same name, whose verse of ecstasy is included in the Theragāthā (vs. 112). According to the Commentary (ThagA.i.221), he belonged to a rich brahmin family of the Vaccha clan (Vacchagotta). His personal name is not given. He became an expert in brahmin learning, but failing to find therein what he sought, he became a Paribbājaka, joining the Buddha’s Order later.

In the time of Vipassī Buddha he was a householder of Bandhumatī, and one day, when the Buddha and his monks were invited to the king’s palace, he swept the street along which the Buddha passed and set up a Rag as decoration. As a result he was born, four kappas ago, as a rājā, Sudhaja by name. He is probably identical with Vīthisammajjaka of the Apadāna. Ap.i.177.


2. Vacchagotta. A Paribbājaka. He is mentioned in the Anguttara Nikāva (A.i.180f ) as visiting the Buddha at Venāgapura, where he was at the head of the brahmins. He is possibly to be identified with Vacchagotta (1). In this context, however, he is called Venāgapurika. Vacchagotta (1) (q.v.) was a native of Rājagaha, but seems to have travelled widely, for we find him visiting the Buddha at Vesāli (M.i.481), at Sāvatthi (M.i.483; S.iii.257), and at Ñātikā (S.iv. 401), in addition to his visits to Rājagaha (M.i.489). The Commentary (AA.i.410), moreover, explains Venāgapuraka by “Venāgapuravāsī,” which may mean that he merely lived at Venāgapura and was not necessarily a native of that place. Vacchagotta’s question was as to how the Buddha looked so shining and his colour so clear? Was it because he slept on a luxurious bed? The Buddha answered that his bed was luxurious and comfortable, but from quite a different point of view. At the end of the discourse, Vacchagotta declares himself a follower of the Buddha.

1. Vacchagotta.Một Paribbājaka, người sau này trở thành A-la-hán Thera. Một số cuộc trò chuyện mà ông đã có với Đức Phật được đề cập trong sách. Để biết chi tiết, hãy xem Tevijja Vacchagotta-, Aggi Vacchagotta-, Mahā Vacchagotta-, Vaccha- và Vacchagotta-Suttas. Một số bài kinh này được trích dẫn trong Kathāvatthu (Ví dụ: trang 267, 505). Kinh Tương Ưng Bộ chứa toàn bộ phần về Vacchagotta; các cuộc thảo luận của ông chủ yếu quan tâm đến những câu hỏi hoang đường như thế giới có tồn tại vĩnh cửu, bản chất của sự sống, sự tồn tại hay nói cách khác của Tathāgata sau khi chết, v.v. S.iii.257ff .; xem thêm S.iv.391ff., về một số cuộc thảo luận của Vacchagotta với Moggallāna, Ananda và Sabhiya Kaccāna về các chủ đề tương tự. Ba Vacchagotta Suttas của Majjhima Nikāya dường như chứa đựng câu chuyện về sự cải đạo của Vacchagotta, theo thứ tự: ở phần kết của Tevijja Vacchagotta (số 72) chỉ đơn thuần nói rằng “Paribbājaka Vacchagotta hoan hỷ về những gì Đức Thế Tôn đã nói.” Cuối phần kế tiếp, Aggi Vacchagotta, ông được nhắc đến là đã nhận Đức Phật làm thầy của mình. Trong phần thứ ba, Mahā Vacchagotta, ông tìm cách xuất gia từ Đức Phật tại Rājagaha, và nhận nó sau thời gian tập sự bắt buộc là bốn tháng. Anh ta trở lại với Đức Phật sau hai tuần và nói với Ngài rằng anh ta đã đạt được tất cả những gì cần đạt được bằng sự hiểu biết của một vị không phải A-la-hán và yêu cầu giải thích thêm về Giáo lý. Đức Phật bảo anh ta tiến hành việc nghiên cứu về sự bình tĩnh và sáng suốt, nhờ đó có thể đạt được sáu hạnh abhiññā. Vacchagotta thu lợi nhờ bài học và ngay sau đó trở thành một vị A la hán.

Câu chuyện này chắc chắn xác định Paribbājaka với Thera cùng tên, người có bài kệ xuất thần được đưa vào Theragāthā (so với 112). Theo Luận ngữ (ThagA.i.221), ông thuộc một gia đình Bà la môn giàu có của bộ tộc Vaccha (Vacchagotta). Tên cá nhân của anh ấy không được đưa ra. Anh ta trở thành một chuyên gia trong việc học bà la môn, nhưng không tìm thấy ở đó những gì anh ta tìm kiếm, anh ta trở thành một Paribbājaka, gia nhập Giáo đoàn của Đức Phật sau đó.

Vào thời Đức Phật Vipassī, ngài là một gia chủ của Bandhumatī, và một ngày nọ, khi Đức Phật và các tu sĩ của ngài được mời đến cung điện của nhà vua, ngài quét qua con đường mà Đức Phật đi qua và dựng lên một chiếc áo choàng làm vật trang trí. Kết quả là anh ta được sinh ra, cách đây bốn kappa, với tên gọi là rājā, Sudhaja. Anh ta có lẽ giống hệt với Vīthisammajjaka của Apadāna. Ap.i.177.


2. Vacchagotta.Một Paribbājaka. Ngài được nhắc đến trong Anguttara Nikāva (Ai180f) khi viếng thăm Đức Phật tại Venāgapura, nơi ngài đứng đầu các Bà la môn. Anh ta có thể được đồng nhất với Vacchagotta (1). Tuy nhiên, trong bối cảnh này, ông được gọi là Venāgapurika. Vacchagotta (1) (qv) là người gốc Rājagaha, nhưng dường như đã đi nhiều nơi, vì chúng ta thấy ông đến thăm Đức Phật tại Vesāli (Mi481), tại Sāvatthi (Mi483; S.iii.257), và tại Ñātikā (S .iv. 401), ngoài các chuyến viếng thăm Rājagaha (Mi489). Hơn nữa, The Comment (AA.i.410), giải thích Venāgapuraka bằng “Venāgapuravāsī,” có thể có nghĩa là ông chỉ sống ở Venāgapura và không nhất thiết phải là người bản xứ của nơi đó. Vacchagotta ‘ Câu hỏi đặt ra là làm thế nào mà Đức Phật trông rất sáng và màu sắc của Ngài rất rõ ràng? Có phải vì anh ta đã ngủ trên một chiếc giường sang trọng? Đức Phật trả lời rằng chiếc giường của Ngài rất sang trọng và thoải mái, nhưng theo một quan điểm hoàn toàn khác. Vào cuối bài giảng, Vacchagotta tuyên bố mình là một tín đồ của Đức Phật.

II.Trưởng lão tăng kệ – tiểu bộ kinh Nikaya

(CXII) Vacchagotta (Thera. 16)

Trong thời đức Phật hiện tại, ngài sanh ở Ràjagaha (Vương Xá), con một Bà-la-môn giàu có. Vì có đến bốn vị Trưởng lão tên Vaccha, ngài được gọi là Vacchagotta. Khi đến tuổi trưởng thành, giỏi về Bà-la-môn giáo điển, ngài cảm thấy không thỏa mãn, vì không tìm thấy lõi cây trong sự học hỏi ấy, sau ngài trở thành một du sĩ. Nhờ vậy, ngài gặp bậc Ðạo Sĩ, bằng lòng với những câu trả lời, ngài xuất gia, và sau một thời gian, chứng được sáu thắng trí, hân hoan với quả chứng và nếp sống của mình, ngài nói lên bài kệ:

112. Ta chứng được Ba minh,

Ðạt được đại thiền định,

Tâm chỉ được thiện xảo,

Ta đạt được mục đích,

Lời Phật dạy làm xong.

III. Tóm tắt bài kinh số 71 – Trung Bộ Kinh Kinh Tam Minh Vacchagotta
(Tevijja – Vacchagottasuttam)

1. Du sĩ ngoại đạo Vacchagotta ghi lại dư luận nhận xét về Thế Tôn rằng:

” Sa – môn Gotama là bậc Nhất Thiết Trí, là bậc Nhất Thiết Kiến. Ngài tự cho rằng là có tri kiến hoàn toàn: ” Khi Ta đi, khi Ta đứng, khi Ta ngủ và khi Ta thức, tri kiến luôn luôn tồn tại liên tục “.

Đây là dư luận không đúng về Thế Tôn. Đức Thế Tôn dạy lời nhận xét đúng về Thế Tôn là:

” Sa-môn Gotama là bậc có Tam minh “, khi nào Thế Tôn muốn khởi dậy Tam minh, thì Tam minh mới sinh khởi.

2. Vacchagotta hỏi:

2.1. ” Có thể có người tại gia nào không đoạn trừ các kiết sử tại gia mà mà khi thân hoại mạng chung lại có thể đoạn tận khổ đau.

– Thế Tôn dạy: ” Không có “

2.2. ” Có thể có người tại gia nào không đoạn trừ kiết sử tại gia mà khi thân hoại mạng chung lại có thể sanh Thiên “.

– ” Có rất nhiều “, Thế Tôn dạy.

3. Vacchagotta lại hỏi:

3.1. ” Có tà mạng ngoại đạo nào, sau khi thân hoại mạng chung có thể diệt tận khổ đau.

– ” Thế Tôn dạy: ” không có “.

3.2. ” Có tà mạng ngoại đạo nào, sau khi thân hoại mạng chung có thể sanh thiên?”

– Thế Tôn dạy: ” Thế Tôn dù nhớ đến 91 kiếp, thì thấy chỉ có một vị tà mạng ngoại đạo duy nhất được sanh thiên: vị nầy thuyết về nghiệp và tác dụng của nghiệp.

IV. Trung Bộ Kinh – Bài Kinh số 72 Kinh Aggivacchagotta ( dạy vaccha về lửa )

Trung Bộ Kinh – Bài Kinh số 72
Kinh Aggivacchagotta
(Aggivacchagottasuttam)

  1. GIẢI THÍCH TỪ NGỮ 

(Các từ ngữ quen thuộc)

  1. NỘI DUNG BẢN KINH  AGGIVACCHAGOTTA
  2. Vacchagotta, một chàng du sĩ ngoại đạo trên đường thao thức tìm kiếm sự thật của con người và cuộc đời, bị tư duy và nhiều câu hỏi ám ảnh tâm trí, thường đến yết kiến Thế Tôn để lắng nghe các câu trả lời. Giữa nhiều thắc mắc, một lần ở thành Sàvatthì, Thắng Lâm, Vacchagotta bạch hỏi Thế Tôn mười câu hỏi siêu hình:
  3. Thế giới là thường? Chỉ như vậy là thật, ngoài ra là hư vọng.
  4. Thế giới là vô thường? Chỉ như vậy là thật, ngoài ra là hư vọng.
  5. Thế giới là hữu biên? Chỉ như vậy là thật, ngoài ra là hư vọng.
  6. Thế giới là vô biên? Chỉ như vậy là thật, ngoài ra là hư vọng.
  7. Cơ thể và sinh mạng(life principle; soul) là một? Chỉ như vậy là thật, ngoài ra là hư vọng.
  8. Cơ thể và sinh mạng là khác? Chỉ như vậy là thật, ngoài ra là hư vọng.
  9. Như Lai tồn tại sau khi chết? …
  10. Như Lai không tồn tại sau khi chết?…
  11. Như Lai có và không tồn tại sau khi chết?
  12. Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết?

– Đức Thế Tôn không có chủ trương về các vấn đề nêu trên. Vacchagotta kinh ngạc thốt lên:” Ngài thấy có sự nguy hại gì mà Ngài không chấp nhận hoàn toàn những tri kiến như vậy? “

– Đức Thế Tôn xác định: ” Chủ trương một trong mười điều trên là tà kiến, kiến trù lâm, kiến hoang vu, kiến hý luận, kiến tranh chấp, kiến kiết phược, đi đôi với khổ, với tàn hại, với não hại, với nhiệt não, không hướng đến yểm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng tri, giác ngộ, Niết Bàn “

2.Vacchagotta lại hỏi:” Thế thì tôn giả Gotama có tà kiến nào không? – Tà kiến đã được Như Lai đoạn trừ. Như Lai đã giải thoát, không còn chấp thủ (do đã thấy rõ sự thật của Sắc (Thọ, Tưởng, Hành, Thức), Sắc tập, Sắc diệt.

-Thưa tôn giả Gotama, một Tỷ kheo được tâm giải thoát như vậy sanh khởi chỗ nào? Không sanh khởi? Sanh khởi và không sanh khởi? Không sanh khởi và không không sanh khởi?

Thế Tôn đều đáp: Bốn câu hỏi nầy không thể áp dụng .

– Bấy giờ tâm thức Vacchagotta, trước các câu trả lời của Thế Tôn, trở nên mờ mịt, nghi ngờ cả Thế Tôn!

  1. Thế Tôn đưa raảnh dụ ngọn lửa do nhiên liệu, cỏ và củi và hỏiVacchagotta khi ngọn lửa tắt: ” Ngọn lửa đi về phương hướng nào? Phương Đông? Tây? Nam? Bắc? …

– Vacchagotta đáp: Các câu hỏi ấy không thể áp dụng ở đây.

– Thế Tôn cắt nghĩa: con người nhận biết Như Lai qua năm uẩn (đồng hóa Như Lai với năm uẩn), nhưng năm uẩn đã được Như Lai đoạn diệt, cắt đứt tận gốc rễ, không thể tái sinh; Như Lai đã giải thoát khỏi năm uẩn (thể nhập vào thực tại như thực) nên các câu hỏi của Vacchagotta đặt ra về Như Lai không thể áp dụng ở đây.

V. Ðại kinh Vaccaghotta (Mahàvacchagotta sutta) Trung bộ kinh

Trung Bộ Kinh
Majjhima Nikaya

73. Ðại kinh Vaccaghotta
(Mahàvacchagotta sutta)


Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn ở tại Rajagaha (Vương Xá), Veluvàna (Trúc Lâm), nơi Kalandakanivape (chỗ nuôi dưỡng sóc).

Rồi du sĩ ngoại đạo Vacchagotta đi đến chỗ Thế Tôn, sau khi đến, nói lên những lời chào đón hỏi thăm với Thế Tôn, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, bèn ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, du sĩ ngoại đạo Vacchagotta thưa với Thế Tôn:

— Ðã lâu rồi tôi mới được hầu chuyện với Tôn giả Gotama. Lành thay, nếu Tôn giả Gotama giảng cho tôi một cách vắn tắt các thiện và bất thiện pháp.

— Này Vaccha, Ta có thể giảng cho Ông một cách vắn tắt các thiện và bất thiện pháp. Này Vaccha, Ta có thể giảng cho Ông, một cách rộng rãi các thiện và bất thiện pháp. Nhưng này Vaccha, Ta sẽ giảng cho Ông một cách vắn tắt, các thiện và bất thiện pháp. Hãy nghe và khéo tác ý. Ta sẽ giảng.

— Thưa vâng, Tôn giả.

Du sĩ ngoại đạo Vacchagotta vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn giảng như sau:

— Tham, này Vaccha, là bất thiện, vô tham là thiện. Sân, này Vaccha, là bất thiện, vô sân là thiện. Si, này Vaccha, là bất thiện, vô si là thiện. Như vậy, này Vaccha, ba pháp là bất thiện, ba pháp là thiện. Sát sanh, này Vaccha, là bất thiện, từ bỏ sát sanh là thiện. Lấy của không cho, này Vaccha, là bất thiện, từ bỏ lấy của không cho là thiện. Tà hạnh trong các dục, này Vaccha là bất thiện, từ bỏ tà hạnh trong các dục là thiện. Vọng ngữ, này Vaccha, là bất thiện, từ bỏ vọng ngữ là thiện. Nói hai lưỡi, này Vaccha, là bất thiện, từ bỏ nói hai lưỡi là thiện. Nói ác khẩu, này Vaccha, là bất thiện, từ bỏ nói ác khẩu là thiện. Nói lời phù phiếm, này Vaccha, là bất thiện, từ bỏ nói lời phù phiếm là thiện. Xan tham, này Vaccha, là bất thiện, không xan tham là thiện. Sân, này Vaccha, là bất thiện, không sân là thiện. Tà kiến, này Vaccha, là bất thiện, chánh kiến là thiện. Như vậy, này Vaccha, mười pháp là bất thiện, mười pháp là thiện.

Này Vaccha, khi ái được một Tỷ-kheo đoạn trừ, cắt tận gốc rễ, làm cho như thân cây tala, không được tái sanh, không thể sanh khởi trong tương lai, Tỷ-kheo ấy là bậc A-la-hán, các lậu đã tận, tu hành thành mãn, các việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã thành đạt lý tưởng, đã tận trừ hữu kiết sử, chánh trí giải thoát.

— Mong sự việc là vậy về Tôn giả Gotama. Nhưng không biết Tôn giả Gotama có một Tỷ-kheo là đệ tử đã đoạn trừ các lậu hoặc, với thượng trí, tự mình chứng ngộ, chứng đạt và an trú ngay trong hiện tại, vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát?

— Này Vaccha, không phải chỉ một trăm, hai trăm, ba trăm, bốn trăm, năm trăm mà còn nhiều hơn thế nữa là những Tỷ-kheo đệ tử của Ta đã đoạn trừ các lậu hoặc, với thượng trí, tự mình chứng ngộ, chứng đạt và an trú ngay trong hiện tại vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát.

— Mong sự việc là như vậy đối với Tôn giả Gotama. Mong sự việc là như vậy đối với các Tỷ-kheo. Nhưng không biết Tôn giả Gotama có một Tỷ-kheo-ni là đệ tử đã đoạn trừ các lậu hoặc, với thượng trí, tự mình chứng ngộ, chứng đạt và an trú ngay trong hiện tại vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát?

— Này Vaccha, không phải chỉ một trăm, hai trăm, ba trăm, bốn trăm, năm trăm mà còn nhiều hơn thế nữa là những Tỷ-kheo-ni, đệ tử của Ta, đã đoạn trừ các lậu hoặc, với thượng trí, tự mình chứng ngộ, chứng đạt và an trú ngay trong hiện tại vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát.

— Mong sự việc là như vậy đối với tôn giả Gotama. Mong sự việc là như vậy đối với các Tỷ-kheo. Mong sự việc là như vậy đối với các Tỷ-kheo-ni. Nhưng không biết Tôn giả Gotama có một Nam cư sĩ là đệ tử sống tại gia, mặc áo trắng, theo Phạm hạnh, sau khi đã đoạn trừ năm hạ phân kiết sử, được hóa sanh, nhập Niết-bàn tại chỗ ấy, không phải trở lại đời này nữa?

— Này Vaccha, không phải chỉ một trăm, hai trăm, ba trăm, bốn trăm, năm trăm mà còn nhiều hơn thế nữa là những Nam cư sĩ, là đệ tử sống tại gia, mặc áo trắng, theo Phạm hạnh, sau khi đã đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh, nhập Niết-bàn tại chỗ ấy, không phải trở lại đời này nữa.

— Mong sự việc là như vậy đối với Tôn giả Gotama. Mong sự việc là như vậy đối với các Tỷ-kheo. Mong sự việc là như vậy đối với các Tỷ-kheo-ni. Mong sự việc là như vậy đối với Nam cư sĩ, sống tại gia, mặc áo trắng, theo Phạm hạnh. Nhưng không biết Tôn giả Gotama có một Nam cư sĩ, là đệ tử sống tại gia, mặc áo trắng (tuy), hưởng thụ vật dục nhưng xây dựng Thánh giáo (Sasanakaro), chấp nhận giáo huấn, đã độ nghi đoạn hoặc, chứng đắc vô sở úy, không dựa vào người khác, sống trong Thánh giáo của bậc Ðạo sư?

— Này Vaccha, không phải chỉ một trăm, hai trăm, ba trăm, bốn trăm, năm trăm mà còn nhiều hơn thế nữa là những Nam cư sĩ, là đệ tử sống tại gia, mặc áo trắng, hưởng thụ vật dục, nhưng xây dựng Thánh giáo, chấp nhận giáo huấn, đã độ nghi đoạn hoặc, chứng đắc vô sở úy, không dựa vào người khác, sống trong Thánh giáo của bậc Ðạo sư.

— Mong sự việc là như vậy đối với Tôn giả Gotama. Mong sự việc là như vậy đối với các Tỷ-kheo. Mong sự việc là như vậy đối với các Tỷ-kheo-ni. Mong sự việc là như vậy đối với Nam cư sĩ, sống tại gia, mặc áo trắng, theo Phạm hạnh. Mong sự việc là như vậy đối với Nam cư sĩ sống tại gia, mặc áo trắng, hưởng thụ dục lạc. Nhưng không biết Tôn giả Gotama có một Nữ cư sĩ, là bậc đệ tử sống tại gia, mặc áo trắng, theo Phạm hạnh, sau khi đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh, nhập Niết-bàn tại chỗ ấy, không trở lại đời này nữa?

— Này Vaccha, không phải chỉ một trăm, hai trăm, ba trăm, bốn trăm, năm trăm mà còn nhiều hơn thế nữa là những Nữ cư sĩ, là đệ tử sống tại gia, mặc áo trắng, theo Phạm hạnh, sau khi đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh, nhập Niết-bàn tại chỗ ấy, không trở lại đời này nữa.

— Mong sự việc là như vậy đối với Tôn giả Gotama. Mong sự việc là như vậy đối với các Tỷ-kheo. Mong sự việc là như vậy đối với các Tỷ-kheo-ni. Mong sự việc là như vậy đối với các Nam cư sĩ, sống tại gia, mặc áo trắng, theo Phạm hạnh. Mong sự việc là như vậy đối với các Nam cư sĩ sống tại gia, mặc áo trắng, hưởng thụ các dục lạc. Mong sự việc là như vậy đối với các Nữ cư sĩ sống tại gia, mặc áo trắng, theo Phạm hạnh. Nhưng không biết Tôn giả Gotama có Nữ cư sĩ, là đệ tử sống tại gia, mặc áo trắng, hưởng thụ vật dục, nhưng xây dựng Thánh giáo, chấp nhận giáo huấn, đã độ nghi đoạn hoặc, chứng đắc vô sở úy, không dựa vào người khác, sống trong Thánh giáo của bậc Ðạo sư?

— Này Vaccha, không phải chỉ một trăm, không phải hai trăm, không phải ba trăm, không phải bốn trăm, không phải năm trăm mà nhiều hơn thế nữa là những Nữ cư sĩ, là đệ tử sống tại gia, mặc áo trắng, hưởng thụ vật dục, nhưng xây dựng Thánh giáo, chấp nhận giáo huấn, đã độ nghi đoạn hoặc, chứng đắc vô sở úy, không dựa vào người khác, sống trong Thánh giáo của bậc Ðạo sư.

— Thưa Tôn giả Gotama, nếu Tôn giả Gotama đã thành mãn pháp này, nhưng các Tỷ-kheo không được thành mãn, như vậy Phạm hạnh này đã không được đầy đủ về phương diện này. Thưa Tôn giả Gotama, vì rằng Tôn giả Gotama đã thành mãn pháp này và các Tỷ-kheo cũng được thành mãn; như vậy Phạm hạnh này đã được đầy đủ về phương diện này. Thưa Tôn giả Gotama, nếu Tôn giả Gotama đã thành mãn pháp này, và các Tỷ-kheo đã thành mãn, và các Tỷ-kheo-ni không thành mãn; như vậy Phạm hành này không được đầy đủ về phương diện này. Thưa Tôn giả Gotama, vì rằng Tôn giả Gotama đã thành mãn pháp này, và các Tỷ-kheo đã thành mãn, và các Tỷ-kheo-ni đã thành mãn; như vậy Phạm hạnh này được đầy đủ về phương diện này. Thưa Tôn giả Gotama, nếu Tôn giả Gotama đã thành mãn pháp này và các Tỷ-kheo đã thành mãn, và các Tỷ-kheo ni đã thành mãn, và các Nam cư sĩ sống tại gia, mặc áo trắng, theo Phạm hạnh không thành mãn; như vậy Phạm hạnh này đã không được đầy đủ về phương diện này. Thưa Tôn giả Gotama, vì rằng Tôn giả Gotama đã thành mãn pháp này, các Tỷ-kheo cũng đã thành mãn, các Tỷ-kheo-ni cũng đã thành mãn, các Nam cư sĩ sống tại gia, mặc áo trắng, theo Phạm hạnh cũng đã thành mãn; như vậy Phạm hạnh này đã được đầy đủ về phương diện này. Thưa Tôn giả Gotama, nếu Tôn giả Gotama đã thành mãn pháp này, và các Tỷ-kheo đã thành mãn, và các Tỷ-kheo ni đã thành mãn, các Nam cư sĩ sống tại gia, mặc áo trắng, theo phạm hạnh đã thành mãn nhưng các Nam cư sĩ sống tại gia, mặc áo trắng, hưởng thụ vật dục không thành mãn; như vậy phạm hạnh này không được đầy đủ về phương diện này. Thưa Tôn giả Gotama vì rằng Tôn giả Gotama đã thành mãn pháp này, và các Tỷ-kheo đã thành mãn, và các Tỷ-kheo-ni đã thành mãn, và các Nam cư sĩ sống tại gia, mặc áo trắng, theo Phạm hạnh đã thành mãn, và các Nam cư sĩ sống tại gia, mặc áo trắng, hưởng thụ vật dục đã thành mãn; như vậy Phạm hạnh này được đầy đủ về phương diện này. Thưa Tôn giả Gotama, nếu Tôn giả Gotama đã thành mãn pháp này và các Tỷ-kheo đã thành mãn, và các Tỷ-kheo-ni đã thành mãn, và các Nam cư sĩ sống tại gia, mặc áo trắng, hưởng thụ vật dục đã thành mãn; nhưng các Nữ cư sĩ, sống tại gia, mặc áo trắng, sống theo Phạm hạnh không thành mãn; như vậy Phạm hạnh này không được đầy đủ về phương diện này. Thưa Tôn giả Gotama, vì rằng Tôn giả Gotama đã thành mãn pháp này, và các Tỷ-kheo đã thành mãn, và các Tỷ-kheo-ni đã thành mãn, và các Nam cư sĩ sống tại gia, mặc áo trắng, theo Phạm hạnh đã thành mãn, và các Nam cư sĩ sống tại gia, mặc áo trắng, hưởng thụ các vật dục đã thành mãn, và các Nữ cư sĩ sống tại gia, mặc áo trắng, theo Phạm hạnh đã thành mãn; như vậy Phạm hạnh này được đầy đủ về phương diện này. Này Tôn giả Gotama, nếu Tôn giả Gotama đã thành mãn pháp này, và các Tỷ-kheo đã thành mãn, và các Ty kheo ni đã thành mãn, và các Nam cư sĩ sống tại gia, mặc áo trắng, theo Phạm hạnh đã thành mãn, và các Nam cư sĩ sống tại gia, mặc áo trắng, hưởng thụ vật dục đã thành mãn, và các Nữ cư sĩ sống tại gia, mặc áo trắng, theo Phạm hạnh đã thành mãn; nhưng các Nữ cư sĩ sống tại gia, mặc áo trắng, hưởng thụ vật dục không thành mãn; như vậy Phạm hạnh này đã không đầy đủ về phương diện này. Thưa Tôn giả Gotama, vì rằng Tôn giả Gotama đã thành mãn pháp này, và các Tỷ-kheo đã thành mãn, và các Tỷ-kheo-ni đã thành mãn, và các Nam cư sĩ sống tại gia, mặc áo trắng, theo Phạm hạnh đã thành mãn, và các Nam cư sĩ sống tại gia, mặc áo trắng, hưởng thụ vật dục đã thành mãn, và các nữ cư sĩ sống tại gia, mặc áo trắng, theo Phạm hạnh đã thành mãn, và các Nữ cư sĩ sống tại gia, mặc áo trắng, hưởng thụ các vật dục đã thành mãn; như vậy Phạm hạnh này được đầy đủ về phương diện này.

Thưa Tôn giả Gotama, ví như con sông Hằng (Ganga) hướng về biển cả, chảy về biển cả, xuôi dòng về biển cả, liền đứng lại khi xúc chạm với biển cả; cũng vậy hội chúng này của Tôn giả Gotama, gồm có cư sĩ và xuất gia, hướng về Niết-bàn, chảy về Niết-bàn, xuôi dòng về Niết-bàn, đứng lại khi xúc chạm với Niết-bàn.

Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Tôn giả Gotama như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện trình bày. Nay con quy y Tôn giả Gotama, quy y Pháp, quy y Tăng. Mong Tôn giả Gotama cho con được xuất gia với Tôn giả Gotama, được thọ đại giới.

— Này Vaccha, ai trước kia thuộc ngoại đạo muốn xuất gia trong Pháp và Luật này, muốn thọ đại giới, người ấy phải sống bốn tháng biệt trú. Sau bốn tháng, (nếu) các Tỷ-kheo hoan hỷ, có thể cho vị ấy xuất gia, cho thọ đại giới để trở thành Tỷ-kheo. Nhưng ở đây, Ta biết sự sai biệt về tâm tánh chúng sanh.

— Bạch Thế Tôn, nếu những ai trước kia thuộc ngoại đạo, muốn xuất gia trong Pháp và Luật này, muốn thọ đại giới phải sống bốn tháng biệt trú. Sau bốn tháng, (nếu) các Tỷ-kheo hoan hỷ, có thể cho (những vị ấy) xuất gia, cho thọ đại giới để trở thành Tỷ-kheo, con sẽ sống biệt trú bốn năm. Sau bốn năm, nếu các Tỷ-kheo hoan hỷ, hãy cho con xuất gia, cho con thọ đại giới để thành Tỷ-kheo.

Du sĩ ngoại đạo Vacchagotta được xuất gia với Thế Tôn, được thọ đại giới, không lâu sau khi thọ đại giới, nửa tháng sau khi thọ đại giới, Tôn giả Vacchagotta đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn, ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, Tôn giả Vacchagotta bạch Thế Tôn:

— Bạch Thế Tôn, cho đến mức độ trí hữu học, minh hữu học có thể chứng đạt, con đã chứng đạt. Mong Thế Tôn dạy cho con pháp (khác) cao hơn.

— Vậy này Vaccha, hãy tu tập hai pháp cao hơn này, chỉ và quán. Này Vaccha, hai pháp này được tu tập cao hơn, chỉ và quán, sẽ đưa đến sự thể nhập vào một số giới sai biệt.

Này Vaccha, nếu Ông muốn như sau: “Ta muốn chứng được các loại thần thông: ta có thể một thân hiện ra nhiều thân, nhiều thân hiện ra một thân; ta có thể hiện hình biến hình đi ngang qua vách, qua tường, qua núi như đi ngang hư không; Ta có thể độn thổ trồi lên ngang qua đất liền như ở trong nước; ta có thể đi trên nước không chìm như đi trên đất liền; ta có thể ngồi kiết già đi trên hư không như con chim, với bàn tay ta có thể chạm và rờ mặt trăng và mặt trời, những vật có đại oai lực, oai thần như vậy; ta có thể tự thân bay đến cõi Phạm thiên” thì Ông sẽ đạt được cái gì có thể chứng ngộ ở tại đây, nếu Ông còn giữ được đối tượng.

Này Vaccha, nếu Ông muốn như sau: “Với thiên nhĩ thuần tịnh siêu nhân, ta có thể nghe được hai loại tiếng, loài Trời và loài Người, xa hay gần”, thì Ông sẽ đạt được những gì có thể chứng ngộ ở tại đây, nếu Ông còn giữ được đối tượng.

Này Vaccha, nếu Ông Muốn như sau: “Mong rằng ta có thể biết được tâm của các chúng sanh khác, của các người khác với tâm của ta; tâm có tham, ta có thể biết được là tâm có tham, hay tâm vô tham, ta có thể biết được là tâm vô tham; hay tâm có sân, ta có thể biết được là tâm có sân; hay tâm vô sân, ta có thể biết được là tâm vô sân; hay tâm có si, ta có thể biết được là tâm có si; hay tâm vô si, ta có thể biết được là tâm vô si; hay tâm chuyên chú, ta có thể biết được là tâm chuyên chú; hay tâm tán loạn, ta có thể biết được là tâm tán loạn; hay tâm đại hành, ta có thể biết được là tâm đại hành; hay tâm không phải đại hành; ta có thể biết được là tâm không phải đại hành; hay tâm chưa vô thượng, ta có thể biết là tâm chưa vô thượng; hay tâm vô thượng, ta có thể biết là tâm vô thượng; hay định tâm, ta có thể biết là định tâm; hay không phải định tâm, ta có thể biết là không phải định tâm; hay giải thoát tâm, ta có thể biết là giải thoát tâm; hay không phải giải thoát tâm, ta có thể biết là không phải giải thoát tâm”, thì Ông sẽ đạt được những gì có thể chứng ngộ tại đây, nếu Ông còn giữ được đối tượng.

Này Vaccha, Ông có thể muốn như sau: “Ta có thể nhớ đến nhiều đời sống quá khứ, như một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, trăm đời, hai trăm đời, ngàn đời, trăm ngàn đời, nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp, nhiều hoại và thành kiếp. Ta nhớ rằng: “Tại chỗ kia ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ kia, ta được sanh ra tại chỗ nọ. Tại chỗ ấy, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ nọ, ta được sanh ra ở đây. Như vậy, ta có thể nhớ đến nhiều đời sống quá khứ cùng với các nét đại cương và các chi tiết”, Ông sẽ đạt được những gì có thể chứng ngộ tại đây, nếu Ông còn giữ được đối tượng.

Này Vaccha, Ông có thể muốn như sau: “Với thiên nhãn thuần tịnh siêu nhân, ta có thể thấy sự sống và chết của chúng sanh. Ta có thể biết rằng, chúng sanh người hạ liệt kẻ cao sang, người đẹp đẽ kẻ thô xấu, người may mắn kẻ bất hạnh đều do hạnh nghiệp của họ. Những chúng sanh này làm những ác hạnh về thân, ngữ và ý, phỉ báng các bậc Thánh, theo tà kiến, tạo các nghiệp theo tà kiến; những người này sau khi thân hoại mạng chung phải sanh vào cõi dữ ác thú, đọa xứ, địa ngục. Còn những chúng sanh nào làm các thiện hạnh về thân, ngữ và ý, không phỉ báng các bậc Thánh, theo chánh kiến, tạo các nghiệp theo chánh kiến; những người này, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên các thiện thú, Thiên giới, trên đời này. Như vậy, với thiên nhãn thuần tịnh siêu nhân, ta có thể thấy sự sống và chết của chúng sanh. Ta có thể biết chúng sanh, người hạ liệt kẻ cao sang, người đẹp đẽ kẻ thô xấu, người may mắn kẻ bất hạnh đều do hạnh nghiệp của họ”, Ông sẽ đạt được những gì có thể chứng ngộ tại đây, nếu Ông còn giữ được đối tượng.

Này Vaccha, Ông có thể muốn như sau: “Với sự đoạn trừ các lậu hoặc, mong rằng ta có thể với thượng trí tự mình chứng ngộ, chứng đạt và an trú ngay trong hiện tại vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát”, Ông sẽ chứng đạt những gì có thể chứng ngộ tại đây, nếu Ông còn giữ được đối tượng.

Rồi Tôn giả Vaccha hoan hỷ, tùy hỷ lời Thế Tôn dạy, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng về Ngài rồi từ biệt.

Rồi Tôn giả Vacchagotta độc trú viễn ly, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, không bao lâu với thắng trí, tự mình chứng ngộ, chứng đạt và an trú ngay trong hiện tại vô thượng cứu cánh Phạm hạnh, vì mục đích này Thiện gia nam tử chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, hướng đến Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, sau đời hiện tại không có đời khác nữa; Tôn giả Vacchagotta đã trở thành một vị A-la-hán khác nữa.

Sau một thời gian, một số đông Tỷ-kheo đi đến yết kiến Thế Tôn. Tôn giả Vacchagotta thấy các Tỷ-kheo từ đàng xa đi đến, sau khi thấy liền đến các Tỷ-kheo ấy, sau khi đến nói với các Tỷ-kheo ấy như sau:

— Chư Tôn giả đang đi đâu?

— Thưa Hiền giả, chúng tôi đi đến yết kiến Thế Tôn.

— Vậy chư Tôn giả hãy nhân danh tôi, cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn và thưa: “Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo Vacchagotta cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn và nói như sau: “Thế Tôn đã được con hầu hạ, Thiện Thệ đã được con hầu hạ”.

— Thưa vâng, Hiền giả.

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Vacchagotta. Rồi các Tỷ-kheo ấy đi đến chỗ Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

— Bạch Thế Tôn, Tôn giả Vacchagotta cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn và bạch như sau: “Thế Tôn đã được con hầu hạ, Thiện Thệ đã được con hầu hạ”.

— Này các Tỷ-kheo, Ta đã được biết tâm của Tỷ-kheo Vacchagotta với tâm của Ta như sau: “Tỷ-kheo Vacchagotta là bậc tam minh, có đại thần lực, có đại uy lực”. Các chư Thiên cũng báo với Ta ý nghĩa ấy: “Tỷ-kheo Vacchagotta là bậc tam minh, có đại thần lực, có đại uy lực”.

Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.

Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt

Vi. Chương 12 Tương ưng vacchagotta – Tập III Tương ưng bộ – Thiên Uẩn

1-2) Nhân duyên ở Sàvatthi…
Rồi du sĩ ngoại đạo Vacchagota đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên những lời chào đón hỏi thăm; sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên.
3) Ngồi xuống một bên, du sĩ ngoại đạo Vacchagota bạch Thế Tôn:
— Do nhân gì, do duyên gì, này Tôn giả Gotama, một số tà kiến sai khác như thế này khởi lên ở đời: “Thế giới là thường còn” hay “Thế giới là không thường còn”; hay “Thế giới hữu biên” hay “Thế giới vô biên”; hay “Sinh mạng và thân thể là một” hay “Sinh mạng và thân thể là khác”; hay “Như Lai có tồn tại sau khi chết” hay “Như Lai không tồn tại sau khi chết” hay “Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”?
4) — Do vô tri đối với sắc, này Vaccha, do vô tri đối với sắc tập khởi, do vô tri đối với sắc đoạn diệt, do vô tri đối với con đường đưa đến sắc đoạn diệt, cho nên có những (tà) kiến sai khác như thế này khởi lên đời: “Thế giới là thường còn”… hay “Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”.
Do nhân này, do duyên này, này Vaccha, có một số (tà) kiến sai khác như thế này khởi lên ở đời: “Thế giới là thường còn”… hay “Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”.
Vô Tri (2)
(Như trên, ở đây là “vô tri đối với thọ”).
Vô Tri (3)
(Như trên, ở đây là “vô tri đối với tưởng”).
Vô Tri (4)
(Như trên, ở đây là “vô tri đối với các hành”).
Vô Tri (5)
(Như trên, ở đây là “vô tri đối với thức”).
II. Vô Kiến (1-5)
(Như trên, ở đây là “vô kiến đối với sắc” … “…thọ, …tưởng, …các hành, …thức”).
III. Không Hiện Quán (anabhisamaya) (1-5)
(Như trên, ở đây là “không hiện quán năm uẩn”).
IV. Không Liễu Tri (anubodha) (1-5)
(Như trên, ở đây là “không liễu tri năm uẩn”)
V. Không Thông Ðạt (appativebha) (1-5)
(Như trên, ở đây là “không thông đạt năm uẩn”)
VI. Không Ðẳng Quán (asallakkhana) (1-5)
(Như trên, ở đây là “không đẳng quán năm uẩn”)
VII. Không Tùy Quán (anupalakkhana) (1-5)
(Như trên, ở đây là “không tùy quán năm uẩn”)
VIII. Không Cận Quán (appaccupalakkhana) (1-5)
(Như trên, ở đây là “không cận quán năm uẩn”)
IX. Không Ðẳng Sát (asamapekkana) (1-5)
(Như trên, ở đây là “không đẳng sát năm uẩn”).
X. Không Cận Sát (appaccupekkhana) (1-5)
(Như trên, ở đây là “không cận sát năm uẩn”)
XI. Không Hiện Kiến (appaccakkhakamma) (1-5)
(Như trên, ở đây là “không hiện kiến năm uẩn”)

Sách điển từ Online – Thời Phật tại thế Tâm Học 2022 : một cuốn sách dạng webs , sưu tầm các tài liệu về Cuộc đời Đức Phật , câu chuyện tại thế và tiền kiếp. Ngoài ra sách còn tra cứu những người và cuộc đời của người đó cùng thời Phật tại thế

Hits: 12

Post Views: 34