Thông tin từ cuốn Đại Phật sử tập 6B tiếng ENG . Dịch tạm từ google

3.  CITTA The Householder

(Both AnǎthapiÓďika and Citta are termed as gahapati, the English rendering being ‘Householders’. In Myanmar renderings, AnǎthapiÓďika is usually termed as ‘thuthay’ whereas Citta is usually rendered as ‘thukywe’. Both these Myanmar terms are synonymous.)

(a)   His Past Aspiration

The future Citta the householder was reborn into a worthy family in the city of HaÑsǎvatī, during the time of Buddha Padumuttara. On one occasion, while listening to the

1426

Buddha’s discourse, he saw a certain disciple being named by Him as the foremost in expounding the Doctrine. The worthy man aspired to that distinction. After making an extraordinary offering, he expressed his wish that, at some future existence, he would be designated by a Buddha as the foremost disciple in expounding the Doctrine.

In His Existence as The Son of A Hunter

The future Citta was reborn either in the deva realm or the human realm for a hundred thousand world-cycles. During the time of Buddha Kassapa, he was born as a son of a hunter. When he came of age, he took up the vocation of hunter. One rainy day, he went to the forest to hunt, carrying a spear. While searching for games, he saw a bhikkhu with his head covered with his robe of dirt-rags, sitting on a rock platform inside a natural cavern. He thought that must be a bhikkhu meditating. He hurried home and had two pots cooked simultaneously, one in which rice was boiled and the other for meat.

When the rice and the meat had been cooked, he saw two bhikkhus coming to his house for alms-food. He invited them into his house, took their alms-bowls, and requested them to accept his offering of alms-food out of compassion for him. Having had the two bhikkhus seated, he let his family to take care of the offering of alms-food to them while he hurried back to the forest to offer the alms-food to the meditating bhikkhu. He carried the rice and the meat in a pot properly covered with banana leaves. On the way, he gathered various kinds of flowers and wrapped them in some leaves. He went to the bhikkhu in the cavern, filled his alms-bowl with the alms-food and offered it and the flowers to him reverentially.

Then he sat in a suitable place and said to the bhikkhu: ‚Just as this offering of delicious food and flowers makes me very glad, may I, in the future existences in the course of saÑsǎra, be blessed with all kinds of gifts. May flowers of five hues shower down on me!‛ The bhikkhu saw that the donor was destined to gain sufficient merit leading to attaining of magga-phala and taught him in detail the method of contemplating the thirty-two aspects of parts of the body.

That son of the hunter (the future Citta) lived a life full of good deeds and at his death, he was reborn in the deva realm. There, he was blessed with showers of flowers that rained down on him up to knee-deep.

CITTA Chủ nhà
(Cả AnǎthapiÓďika và Citta đều được gọi là gahapati, phiên âm tiếng Anh là “Householder”. Trong phiên bản Myanmar, AnǎthapiÓďika thường được gọi là “thuthay” trong khi Citta thường được gọi là “thukywe”. Cả hai thuật ngữ Myanmar này đều đồng nghĩa.)
(a) Khát vọng trong quá khứ của anh ấy
Người chủ hộ Citta tương lai tái sinh vào một gia đình xứng đáng ở thành phố HaÑsǎvatī, vào thời Đức Phật Padumuttara. Vào một dịp, trong khi nghe1426

Thuyết pháp của Đức Phật, Ngài thấy một đệ tử nào đó được Ngài đặt tên là bậc nhất trong việc giảng thuyết Giáo lý. Người đàn ông xứng đáng khao khát sự khác biệt đó. Sau khi cúng dường phi thường, ông bày tỏ nguyện vọng rằng, ở một thời điểm nào đó trong tương lai, ông sẽ được Đức Phật chỉ định làm đệ tử quan trọng nhất trong việc giảng dạy Giáo lý.
Trong sự tồn tại của anh ấy với tư cách là Con trai của một thợ săn
Citta trong tương lai được tái sinh trong cõi deva hoặc cõi người trong một trăm nghìn chu kỳ thế giới. Vào thời Đức Phật Kassapa, ông được sinh ra như một con trai của một thợ săn. Khi đến tuổi trưởng thành, anh ta bắt đầu thiên chức của một người thợ săn. Một ngày mưa, anh ta vào rừng săn bắn, mang theo một ngọn giáo. Trong khi tìm kiếm các trò chơi, anh ta nhìn thấy một vị tỳ khưu trùm đầu với chiếc áo choàng bằng vải vụn, đang ngồi trên một bệ đá bên trong một hang động tự nhiên. Anh ta nghĩ rằng đó phải là một vị tỳ khưu đang thiền định. Anh vội vã về nhà và nấu đồng thời hai cái nồi, một cái nấu cơm và một cái nấu thịt.
Khi cơm và thịt đã được nấu chín, ông thấy có hai vị tỳ khưu đến nhà ông để khất thực. Anh ta mời họ vào nhà, lấy bát khất thực của họ, và yêu cầu họ nhận thức ăn khất thực của anh ta vì lòng từ bi đối với anh ta. Khi đã có hai vị tỳ khưu ngồi xuống, ông để gia đình lo việc cúng dường thực phẩm khất thực cho họ trong khi ông vội vàng quay trở lại rừng để cúng dường thực phẩm cho vị tỳ khưu đang ngồi thiền. Anh chở gạo và thịt vào một cái nồi đậy kín bằng lá chuối. Trên đường đi, anh hái nhiều loại hoa khác nhau và gói chúng vào một vài chiếc lá. Anh ta đi đến vị tỳ khưu trong hang, đổ đầy thức ăn khất thực vào bát của mình và cúng dường nó cùng những bông hoa cho anh ta một cách tôn kính.
Sau đó, ông ngồi vào một nơi thích hợp và nói với vị tỳ khưu: ‚Việc cúng dường hoa và thức ăn ngon này làm cho tôi rất vui mừng, cầu cho tôi, trong tương lai hiện hữu trong khóa học saÑsǎra, được ban phước với tất cả các loại quà tặng. Cầu mong những bông hoa năm sắc đổ xuống cho tôi! ‛Vị Tỳ khưu thấy rằng người hiến tặng đã được định sẵn để đạt được đủ công đức dẫn đến chứng đạt magga-phala và dạy anh ta một cách chi tiết phương pháp quán chiếu ba mươi hai khía cạnh của các bộ phận trên cơ thể.
Con trai của người thợ săn đó (Citta trong tương lai) đã sống một cuộc đời đầy hành động tốt và khi chết, anh ta được tái sinh trong cõi deva. Ở đó, anh được ban phước với những cơn mưa hoa trút xuống anh sâu đến đầu gối.

(b)   Discipleship in His Last Existence

The future Citta was reborn in fortunate destinations throughout the world-cycle that intervened the appearance of the two Buddhas, and during the time of Buddha Gotama, he was reborn as the son of the Rich Man in the town of MacchikǎsaÓďa, in the Province of Magadha. At the time of his birth, flowers of five hues rained down over the whole town up to knee-deep. His parents said: ‚Our son has brought his own name. For he has delighted the mind of the whole town by being blessed with the wondrous floral tribute of five colours. Let us call him ‘Citta’.‛

When young Citta came of age, he was married and at the death of his father, he succeeded to the office of the Rich Man of MacchikǎsaÓďa. At that time, the Venerable Mahǎnǎma, one of the Group of five Ascetics, came to MacchikǎsaÓďa. Citta was full of reverential adoration for Venerable Mahǎnǎma for his serenity. He took the alms-bowl of the Venerable, and invited him to his house for offering of alms-food. After the Venerable had finished his meal, Citta took him to his orchard, had a monastery built for him and requested him to reside there as well as to accept daily alms-food from his house. Venerable Mahǎnǎma consented out of compassion, and seeing that the householder was destined to acquire sufficient merit leading to attainment of magga-phala, he taught a discourse to him extensively on the six internal sense-bases and the six external sense- bases, i.e. sense objects. This subject was taught to Citta because he was a person of middling intelligence, majjhuÑ-puggala.

As Citta had, in his past existences, cultivated Insight into the impermanence, woefulness (dukkha) and unsubstantiality of mind and matter which are conditioned phenomena, his

present efforts in Insight-meditation led him to the enlightenment stage of Never-Returner (anǎgǎmin). (It is not mentioned in the scriptures by which method of meditation he attained anǎgǎmī-phala. However, considering his training, it might be assumed that he attained Path-Knowledge by meditating on the Sense-bases.)

(Incidentally, the difference in the attainments between Citta and AnǎthapiÓďika should be noted here. AnǎthapiÓďika, donor of the Jetavana monastery in Sǎvatthi, was a Stream-Enterer who delighted in charity, (dǎnǎ-bhirata) whereas Citta, donor of the AmbǎÔaka monastery in MacchikǎsaÓďa, was a Never-Returner who delighted in charity as well as in the dhamma, dǎnǎ-bhirata, dhamma-bhirata.)

Householder Citta’s Delight in Charity and in The Dhamma

A few instances of Citta’s natural delight in charity and in the Dhamma are mentioned here as recorded in the Citta SaÑyutta.

(b) Môn đồ hóa trong sự tồn tại cuối cùng của Ngài
Citta trong tương lai tái sinh tại những điểm đến may mắn trong suốt chu kỳ thế giới, nơi có sự xuất hiện của hai vị Phật, và trong thời Đức Phật Gotama, ông tái sinh làm con trai của Người giàu có ở thị trấn MacchikǎsaÓďa, thuộc Tỉnh Magadha. Vào thời ông sinh ra, những bông hoa ngũ sắc đã làm mưa làm gió khắp thị trấn ngập đến đầu gối. Cha mẹ anh ấy nói: ‚Con trai chúng tôi đã mang tên riêng của mình. Vì ông ấy đã làm cho tâm trí của cả thị trấn được vui mừng bởi được ban phước với hương hoa kỳ diệu của năm màu sắc. Hãy để chúng tôi gọi anh ấy là ‘Citta’. ‛
Khi Citta trẻ đến tuổi trưởng thành, anh ấy đã kết hôn và khi cha qua đời, anh ấy đã kế vị chức vụ Người giàu của MacchikǎsaÓďa. Vào lúc đó, Hòa thượng Mahǎnǎma, một trong nhóm Năm nhà khổ hạnh, đến MacchikǎsaÓďa. Citta tràn đầy lòng tôn kính đối với Đại đức Mahǎnǎma vì sự thanh thản của ông. Anh ta nhận lấy chiếc bát khất thực của Hòa thượng, và mời anh ta đến nhà của mình để cúng dường đồ ăn. Sau khi Thượng tọa dùng bữa xong, Citta đưa anh ta đến vườn cây ăn trái của mình, có một tu viện được xây dựng cho anh ta và yêu cầu anh ta cư trú tại đó cũng như nhận thức ăn khất thực hàng ngày từ nhà anh ta. Đại đức Mahǎnǎma đồng ý với lòng từ bi, và thấy rằng chủ gia đình đã được định sẵn để có đủ công đức dẫn đến chứng đạt magga-phala, Ngài đã dạy một bài pháp cho ông ấy về sáu giác quan bên trong và sáu giác quan bên ngoài, tức là giác quan. các đối tượng. Môn học này được dạy cho Citta bởi vì anh ta là một người có trí thông minh trung bình, majjhuÑ-puggala.
Như Citta, trong những kiếp sống trong quá khứ của mình, đã trau dồi Tuệ giác về sự vô thường, khổ đau (dukkha) và tính vô ngã của tâm và vật chất vốn là những hiện tượng có điều kiện,

những nỗ lực hiện tại trong thiền tuệ đã đưa anh ta đến giai đoạn giác ngộ của Không bao giờ trở lại (anǎgǎmin). (Trong kinh sách không đề cập đến phương pháp thiền định mà anh ấy đạt được anǎgǎmī-phala. Tuy nhiên, xem xét quá trình đào tạo của anh ấy, có thể giả định rằng anh ấy đã đạt được Kiến thức do thiền định về các Căn bản giác.)
(Ngẫu nhiên, sự khác biệt về thành tích giữa Citta và AnǎthapiÓďika nên được lưu ý ở đây. AnǎthapiÓďika, nhà tài trợ của tu viện Jetavana ở Sǎvatthi, là một Người tham gia vào dòng suối thích làm từ thiện, (dǎnǎ-bhirata) trong khi Citta, nhà tài trợ của tu viện AmbǎÔaka ở MacchikǎsaÓďa, là một Người không bao giờ trở lại, người rất thích từ thiện cũng như trong giáo pháp, dǎnǎ-bhirata, dhamma-bhirata.)
Chủ nhà Citta’s Delight in Charity và The Dhamma
Một vài trường hợp về niềm vui tự nhiên của Citta trong việc từ thiện và trong Giáo pháp được đề cập ở đây như được ghi lại trong Citta SaÑyutta.

The first Isidatta Sutta

At one time, many bhikkhus were living in the AmbǎÔaka monastery which was donated by Citta the householder, in MacchikǎsaÓďa. One day, Citta went to the monastery and after making obeisance to the bhikkhu-elders, he invited them to an offering of food in his home the next day. Next day, when the bhikkhu-elders were seated at the prepared seats, Citta made obeisance, sat in a suitable place, and said to the Venerable Thera, the senior-most bhikkhu present then: ‚Venerable Sir, ‘Diversity of Elements’, ‘Diversity of Elements’ (Dhǎtu ñǎụattaÑ), it has been said. To what extent is there the diversity of Elements as taught by the Bhagavǎ?‛

The Venerable Thera knew the answer but he was diffident to give a reply to the question, and so he remained silent. for a third time too, the Venerable kept his silence.

Then the Venerable Isidatta, the junior-most bhikkhu among the bhikkhus present, thought: ‚Bhikkhu-elder Thera does not answer the question, nor ask another bhikkhu to answer. The Sangha, by not answering to Citta’s question, makes him appear as harassing. I shall save the situation by answering his question.‛ So, he went near the Venerable Thera and said: ‚Venerable Sir, may I be allowed to answer the question by Citta.‛ And the Venerable Thera gave him permission to do so. Then, the Venerable Isidatta returned to his seat and said to Citta: ‚Householder, you asked the question, ‘Venerable Thera, ‘Diversity of Elements’, ‘Diversity of Elements’, it has been said. To what extent is there, the Diversity of Elements?‛

‚Yes, Venerable Sir, that is so,‛ replied Citta. ‚Householder, as taught by the Bhagavǎ there are various Elements, such as Eye-element (cakkhu-dhǎtu), Element of visual object (r|pa-dhǎtu), Eye-consciousness element (cakkhu-viññǎụa-dhǎtu), Ear-element (sota-dhǎtu), Element of sound (sadda-dhǎtu), Ear-consciousness element (sota-viññǎụa-dhǎtu); …p… Mind-element (mano-dhǎtu), Element of phenomena (dhamma-dhǎtu), Mind-consciousness element (mano-viññǎụa-dhǎtu). Householder, these are the various Elements (ñǎụatta- dhǎtu), as taught by the Bhagavǎ.‛

Citta was satisfied with the answer given by the Venerable Isidatta and personally attended to him at the food offering. When, after finishing the meal, the bhikkhus returned to monastery, the Venerable Thera said to the Venerable Isidatta: ‚Friend Isidatta, you perceived the problem well. I have no such perception. Therefore, friend Isidatta, when similar questions are asked of us, you may do the answering.‛

Kinh Isidatta đầu tiên
Có một thời, nhiều vị tỳ khưu sống trong tu viện AmbǎÔaka do chủ gia đình Citta quyên góp, ở MacchikǎsaÓďa. Một ngày nọ, Citta đi đến tu viện và sau khi vâng lời các vị Tỳ khưu-trưởng lão, anh mời họ đến cúng dường thực phẩm tại nhà anh vào ngày hôm sau. Ngày hôm sau, khi các Tỳ khưu-trưởng lão đã ngồi vào chỗ đã chuẩn bị sẵn, Citta vâng lời, ngồi vào một chỗ thích hợp, và nói với Tôn giả Thera, vị Tỳ khưu cao cấp nhất có mặt lúc đó: ‚Thưa Đại đức, ‘Sự đa dạng của các yếu tố’, ‘Sự đa dạng của các yếu tố’ (Dhǎtu ñǎụattaÑ), nó đã được nói. Sự đa dạng của các Nguyên tố như Bhagavǎ dạy ở mức độ nào? ‛
Hòa thượng Thera biết câu trả lời nhưng ông ấy tỏ ra khác thường để đưa ra câu trả lời cho câu hỏi, và vì vậy ông ấy vẫn im lặng. Lần thứ ba cũng vậy, Thượng tọa giữ im lặng.
Bấy giờ, Đại đức Isidatta, vị tỳ khưu nhỏ tuổi nhất trong số các vị tỳ khưu hiện diện, nghĩ: ‚Tỳ-kheo-già Thera không trả lời câu hỏi, cũng không yêu cầu một vị tỳ khưu khác trả lời. Tăng đoàn, bằng cách không trả lời câu hỏi của Citta, khiến anh ta có vẻ như đang quấy rối. Tôi sẽ cứu vãn tình hình bằng cách trả lời câu hỏi của anh ta. ‛Vì vậy, anh ta đến gần Tôn giả Thera và nói:“ Thưa Đại đức, xin Citta cho phép tôi trả lời câu hỏi. ”Và Đại đức Thera đã cho phép anh ta làm như vậy. Sau đó, Tôn giả Isidatta quay trở lại chỗ ngồi của mình và nói với Citta: ‚Gia chủ, bạn đã đặt câu hỏi,‘ Đại đức Thera, ‘Sự đa dạng của các yếu tố’, ‘Sự đa dạng của các yếu tố’, nó đã được nói rồi. Sự đa dạng của các nguyên tố ở mức độ nào? ‛
Vâng, thưa Đại đức, chính là như vậy, Citta đáp. ‚Gia chủ, như được dạy bởi Bhagavǎ, có nhiều yếu tố khác nhau, chẳng hạn như Yếu tố mắt (cakkhu-dhǎtu), Yếu tố của đối tượng thị giác (r | pa-dhǎtu), Yếu tố nhãn thức (cakkhu-viññǎ lụa-dhǎtu), Tai- nguyên tố (sota-dhǎtu), nguyên tố âm thanh (sadda-dhǎtu), nguyên tố nhĩ thức (sota-viññǎ Silk-dhǎtu); … p … Yếu tố tâm thức (mano-dhǎtu), Yếu tố hiện tượng (dhamma-dhǎtu), Yếu tố tâm thức (mano-viññǎ Lụa-dhǎtu). Gia chủ, đây là các Yếu tố khác nhau (ñǎụatta- dhǎtu), như được dạy bởi Bhagavǎ. ‛
Citta hài lòng với câu trả lời của Đại đức Isidatta và đích thân đến dự lễ cúng dường thực phẩm cho ngài. Sau khi dùng bữa xong, các Tỳ khưu trở về tu viện, Tôn giả Thera nói với Đại đức Isidatta: ‚Bạn Isidatta, bạn đã hiểu rõ vấn đề. Tôi không có nhận thức như vậy. Vì vậy, bạn Isidatta, khi chúng tôi hỏi những câu hỏi tương tự, bạn có thể trả lời. ‛

The Second Isidatta Sutta

On another occasion, when Citta the householder was making an offering of food to the Sangha in his residence, before serving the food he put this question to the Venerable Thera: ‚Is the world permanent or is it impermanent?‛ The question is characteristic of wrong views, and implies the arising or otherwise of such view. As in the previous case, the Venerable Thera did not answer although he knew it. When he kept his silence for three repeated questionings by Citta, the Venerable Isidatta obtained the elder Thera’s permission to answer and replied to him: ‚When there is the erroneous concept regarding the present

1428

body or the five aggregates, sakkǎya diÔÔhi (wrong views) arises; when there is no erroneous concept regarding the five aggregates, wrong views do not arise.‛

Citta pursued the problem with questions as to how the erroneous concept regarding the present body of five aggregates arises, and how that concept does not arise. The Venerable Isidatta gave analytical answers to the satisfaction of him. (for the complete set of questions and answers the reader may read The Second Isidatta Sutta, 1- Citta SaÑyutta, SaÄǎyatana SaÑyutta.)

After that a conversation between Citta and the Venerable Isidatta took place as follows: Citta: ‚From which place do you come, Venerable Sir?‛

Isidatta: ‚I come from Avanti country.‛

Citta:      ‚Venerable Sir, in Avanti country there is a friend of mine, whom I have never met, by the name of Isidatta who had become a bhikkhu. Have you met him, Venerable Sir?‛

Isidatta: ‚Yes, I have, householder.‛

Citta:     ‚Venerable Sir, where is that bhikkhu now?‛ The Venerable Isidatta did not give a reply

Citta:     ‚Venerable Sir, are you my friend whom I had never seen?‛ Isidatta: ‚Yes, householder.‛

Citta: ‚Venerable Sir, may the Venerable Isidatta be pleased to stay in MacchikǎsaÓďa. The AmbǎÔaka monastery is pleasant to live in. I will see to all the four requisites (robes, alms-food, dwelling, medicines).‛

Isidatta: ‚Householder, you speak well. (You say what is good.)‛

(The Venerable Isidatta said so merely to express his appreciation of the donation, but he did not say so with the intention of accepting the donation of any of the four requisites.)

Citta was delighted with the answer given by Venerable Isidatta and personally attended on the Venerable in making offering of alms-food. When the bhikkhus returned to the monastery, the Venerable Thera said to Venerable Isidatta in the same words as he did previously (on the occasion of the first Isidatta Sutta.)

Then the Venerable Isidatta considered that after revealing his identity as an unseen friend of Citta, before becoming a bhikkhu, it would not be proper for him to stay in the monastery donated by Citta. So after tidying up his living quarters and the monastery, he took his alms-bowl and great robe and left the monastery for good, never to return to the town of MacchikǎsaÓďa.

Kinh Isidatta thứ hai
Vào một dịp khác, khi chủ gia đình Citta đang cúng dường thức ăn cho Tăng đoàn tại nơi cư trú của mình, trước khi dọn thức ăn, ông đã đặt câu hỏi này với Tôn giả Thera: ‚Thế giới là vĩnh viễn hay là vô thường?‛ Câu hỏi này là đặc điểm của quan điểm sai, và ngụ ý sự phát sinh hoặc cách khác của quan điểm đó. Như trong trường hợp trước, Đại đức Thera không trả lời mặc dù ông biết điều đó. Khi anh ta giữ im lặng trong ba câu hỏi lặp đi lặp lại của Citta, Đại đức Isidatta xin phép trưởng lão Thera để trả lời và trả lời anh ta: ‚Khi có quan niệm sai lầm về hiện tại
1428

thân hay năm uẩn, sakkǎya diÔÔhi (tà kiến) phát sinh; khi không có khái niệm sai lầm về năm uẩn, thì các quan điểm sai lầm sẽ không phát sinh. ‛
Citta theo đuổi vấn đề với những câu hỏi là làm thế nào mà khái niệm sai lầm liên quan đến thân năm uẩn hiện tại phát sinh, và làm thế nào mà khái niệm đó không phát sinh. Tôn giả Isidatta đã đưa ra những câu trả lời phân tích cho sự hài lòng của anh ta. (Để có đầy đủ các câu hỏi và câu trả lời, độc giả có thể đọc Kinh Isidatta thứ hai, 1- Citta SaÑyutta, SaÄǎyatana SaÑyutta.)
Sau đó, một cuộc trò chuyện giữa Citta và Đại đức Isidatta đã diễn ra như sau: Citta: ‚Ngài đến từ nơi nào, thưa Đại đức?‛
Isidatta: ‚Tôi đến từ đất nước Avanti.‛
Citta: ‚Thưa Đại đức, tại đất nước Avanti có một người bạn của tôi, người mà tôi chưa từng gặp, tên là Isidatta, người đã trở thành một tỳ khưu. Ngài đã gặp ông ấy chưa, thưa Ngài? ‛
Isidatta: ‚Vâng, tôi có, chủ nhà.‛
Citta: ‚Thưa Đại đức, vị tỳ khưu đó hiện ở đâu?‛ Tôn giả Isidatta không trả lời
Citta: ‚Thưa Ngài, Ngài có phải là người bạn mà tôi chưa từng gặp không?‛ Isidatta: ‚Vâng, chủ nhà.‛
Citta: ‚Thưa Ngài, xin Ngài Isidatta vui lòng ở lại MacchikǎsaÓďa. Tu viện AmbǎÔaka thật dễ chịu khi ở. Tôi sẽ thấy tất cả bốn điều kiện cần thiết (áo choàng, đồ ăn khất thực, chỗ ở, thuốc men). ‛
Isidatta: ‚Gia chủ, bạn nói tốt. (Bạn nói điều gì là tốt.) ‛
(Đại đức Isidatta nói như vậy chỉ để bày tỏ sự cảm kích của ông về sự quyên góp, nhưng ông không nói như vậy với ý định chấp nhận sự hiến tặng bất kỳ trong bốn điều kiện cần thiết.)
Citta vui mừng với câu trả lời của Đại đức Isidatta và đích thân tham dự việc cúng dường thực phẩm của Thượng tọa. Khi các Tỳ khưu trở lại tu viện, Tôn giả Thera đã nói với Đại đức Isidatta những lời như ông đã làm trước đây (nhân dịp Kinh Isidatta lần thứ nhất.)
Sau đó, Tôn giả Isidatta cho rằng sau khi tiết lộ danh tính là một người bạn vô danh của Citta, trước khi trở thành một Tỳ khưu, việc ông ở lại tu viện do Citta tặng sẽ là không thích hợp. Vì vậy, sau khi thu dọn nơi ở và tu viện, anh ta mang theo chiếc bát khất thực và áo choàng lớn của mình và rời khỏi tu viện một cách tốt đẹp, không bao giờ trở lại thị trấn MacchikǎsaÓďa.

The MahakapǎÔihǎriya Sutta

At one time, many bhikkhus were living in the AmbǎÔaka monastery, which was donated by Citta the householder, in MacchikǎsaÓďa. Then Citta went to the monastery and after paying respects to the Sangha, he invited them to his farmyard the next day, where his cows were kept. On the following day, the Sangha went to his farmyard and sat in the seats prepared for them. Then the householder personally offered milk-rice to the Sangha.

He was served the milk-rice in a gold vessel by his servants at the same time the Sangha were being served. As he was accompanying the Sangha, after the meal, to the monastery, he gave orders to his servants to make offerings of remaining milk-rice to suitable offerees. Then he accompanied the Sangha to their monastery.

It was scorching hot when the Sangha left the householder’s farmyard. Walking in the hot sun, a rich meal was a rather inconvenient thing for the Sangha. Then the Venerable Mahǎka, the junior-most bhikkhu, said to the Venerable Thera, the senior-most bhikkhu:

‚Venerable Thera, would a cool breeze in an overcast-sky with slight rain drops be convenient for everyone?‛ And the Venerable Thera replied: ‚Friend Mahǎka, a cool breeze in an overcast sky with slight rain drops would be convenient for everyone.‛

Thereupon, the Venerable Mahǎka, by his powers, changed the weather, letting the cool breeze blow in an overcast sky with slight rain drops.

Citta noted this event as a marvellous power possessed by the junior bhikkhu. When they arrived at the monastery, the Venerable Mahǎka said to the Venerable Thera: ‚Venerable Thera, is that enough?‛ And the Venerable Thera replied: ‚Friend Mahǎka, that is enough. friend Mahǎka, that is something done well that deserves reverence.‛ After this recognition of the Venerable Mahǎka’s powers, all the bhikkhus returned to their respective dwelling places (within the monastery complex).

Then Citta requested the Venerable Mahǎka to display his miraculous powers. The Venerable said: ‚In that case, householder, spread your cloak at the door-step to my monastery. Put a pile of grass from the bundle of grass on the cloak.‛ Citta did as was instructed by Venerable Mahǎka. Then the Venerable entered the monastery, bolted the door from inside and sent out flames through the keyhole and through the edges of the door. The flames burned up the grass but the cloak remained unburnt. Then Citta picked up his cloak and, awestruck and goose-flesh appeared on his skin, he sat in a suitable place.

Thereafter, Venerable   Mahǎka   came   out   of   the   monastery   and   said   to   Citta,

‚Householder, is that enough?‛ Citta replied: ‚Venerable Mahǎka, that is enough. Venerable Mahǎka, that is something accomplished. Venerable Mahǎka, that deserves reverence. Venerable Mahǎka, may the Venerable Mahǎka be pleased to stay in MacchikǎsaÓďa. The AmbǎÔaka monastery is pleasant to live in. I will see to the four requisites (robes, alms-food, dwelling, medicines).‛

The Venerable Mahǎka said: ‚Householder, you say what is good.‛

However, Venerable Mahǎka considered that it would not be proper for him to stay at the AmbǎÔaka monastery. So after tidying up his living quarters and the monastery, he took his alms-bowl and big robe and left the monastery for good.

[In the above two suttas, Citta the householder had great reverence and admiration for the Venerable Isidatta and the Venerable Mahǎka in donating his monastic complex to the two bhikkhus. However, from the point of view of the bhikkhus, the four requisites they had been donated were flawed because they amounted to rewards for their actions; Isidatta for expounding the Dhamma, and Mahǎka for displaying miraculous power. Hence, out of regard for the bhikkhu rules of conduct, they left the place for good. (The Commentary and the Sub-Commentary are silent on this point.)]

We have chosen these three suttas, the two Isidatta Suttas and the MahǎkapǎÔihǎriya Sutta as examples of how Citta the householder cherished the Dhamma. (The reader is earnestly advised to go through the suttas in the Citta SaÑyutta, SaÄǎyatana SaÑyutta.)

Kinh MahakapǎÔihǎriya
Có một thời, nhiều tỳ khưu sống trong tu viện AmbǎÔaka, do chủ gia đình Citta quyên góp, ở MacchikǎsaÓďa. Sau đó Citta đi đến tu viện và sau khi bày tỏ sự kính trọng với Tăng đoàn, anh mời họ đến trang trại của mình vào ngày hôm sau, nơi những con bò của anh được nuôi nhốt. Vào ngày hôm sau, Tăng đoàn đi đến trang trại của mình và ngồi vào những chiếc ghế đã chuẩn bị cho họ. Sau đó, chủ gia đình đã đích thân cúng dường gạo sữa cho Tăng đoàn.
Ngài đã được phục vụ gạo sữa trong một chiếc bình vàng bởi những người hầu của mình cùng lúc với Tăng đoàn đang được cung phụng. Khi đi cùng với Tăng đoàn, sau bữa ăn, đến tu viện, ngài ra lệnh cho những người hầu của mình cúng dường cơm sữa còn lại cho những người bề ngoài thích hợp. Sau đó, ông tháp tùng Tăng đoàn đến tu viện của họ.
Trời nóng như thiêu như đốt khi Tăng đoàn rời khỏi trang trại của chủ gia đình. Đi giữa trời nắng nóng, một bữa ăn thịnh soạn là một điều khá bất tiện đối với Tăng đoàn. Sau đó, Hòa thượng Mahǎka, vị tỳ khưu cao cấp nhất, nói với Hòa thượng Thera, vị tỳ khưu cao cấp nhất:
‚Đại đức Thera, liệu một làn gió mát trong bầu trời u ám với những hạt mưa nhẹ có thuận tiện cho mọi người không?‛ Và Hòa thượng trả lời: ‚Bạn Mahǎka, một làn gió mát trong bầu trời u ám với những giọt mưa nhẹ sẽ thuận tiện cho mọi người. ‛

Sau đó, Đại đức Mahǎka, bằng năng lực của mình, đã thay đổi thời tiết, để làn gió mát thổi trên bầu trời u ám với những hạt mưa nhẹ.
Citta ghi nhận sự kiện này như một sức mạnh kỳ diệu mà vị tỳ khưu cấp dưới sở hữu. Khi họ đến tu viện, Hòa thượng Mahǎka nói với Hòa thượng Thera: ‚Hòa thượng Thera, đủ chưa?‛ Và Hòa thượng trả lời: ‚Bạn Mahǎka, thế là đủ. Bạn Mahǎka, đó là một việc làm tốt đáng được tôn kính. ‛Sau khi công nhận quyền hạn của Đại đức Mahǎka, tất cả các Tỳ khưu trở về nơi ở của họ (trong quần thể tu viện).
Sau đó Citta yêu cầu Đại đức Mahǎka hiển thị những quyền năng thần kỳ của mình. Hòa thượng nói: ‚Trong trường hợp đó, gia chủ, hãy trải áo choàng của bạn ở bậc cửa vào tu viện của tôi. Hãy đặt một đống cỏ từ bó cỏ lên chiếc áo choàng. ‛Citta đã làm theo chỉ dẫn của Đại đức Mahǎka. Sau đó, Hòa thượng bước vào tu viện, bắt chốt cửa từ bên trong và thổi lửa ra qua lỗ khóa và qua các mép cửa. Ngọn lửa thiêu rụi cỏ nhưng chiếc áo choàng vẫn không cháy. Sau đó Citta nhặt chiếc áo choàng của mình lên và, trên da anh ta xuất hiện nỗi kinh hoàng và da thịt ngỗng, anh ta ngồi vào một chỗ thích hợp.
Sau đó, Đại đức Mahǎka ra khỏi tu viện và nói với Citta,
‚Gia chủ, vậy đủ chưa?‛ Citta trả lời: ‚Đại đức Mahǎka, vậy là đủ rồi. Đại đức Mahǎka, đó là điều đã hoàn thành. Đại đức Mahǎka, điều đó đáng được tôn kính. Đại đức Mahǎka, xin Đại đức Mahǎka vui lòng ở lại MacchikǎsaÓďa. Tu viện AmbǎÔaka thật dễ chịu khi ở. Tôi sẽ thấy bốn điều kiện cần thiết (y phục, thực phẩm khất thực, nơi ở, thuốc men). ‛
Mahǎka hòa thượng nói: ‚Quản gia, ngươi nói cái gì là tốt rồi.‛
Tuy nhiên, Đại đức Mahǎka cho rằng việc ông ở lại tu viện AmbǎÔaka sẽ không đúng. Vì vậy, sau khi thu dọn nơi ở và tu viện, anh ta mang theo chiếc bát khất thực và chiếc áo choàng lớn của mình và rời tu viện đi tu.
[Trong hai bài kinh trên, chủ gia đình Citta vô cùng tôn kính và ngưỡng mộ đối với Đại đức Isidatta và Đại đức Mahǎka trong việc hiến tặng quần thể tu viện của mình cho hai vị tỳ khưu. Tuy nhiên, theo quan điểm của các Tỳ khưu, bốn điều kiện cần thiết mà họ được tặng là thiếu sót vì chúng chỉ là phần thưởng cho hành động của họ; Isidatta để giảng Pháp, và Mahǎka để phô diễn sức mạnh thần kỳ. Do đó, không quan tâm đến các quy tắc ứng xử của Tỳ khưu, họ đã rời khỏi nơi này cho tốt. (Phần bình luận và phần bình luận phụ đều im lặng về điểm này.)]
Chúng tôi đã chọn ba bài kinh này, hai bài Isidatta Sutta và MahǎkapǎÔihǎriya Sutta làm ví dụ về việc Citta chủ nhà trân trọng Giáo pháp như thế nào. (Người đọc tha thiết được khuyên đọc qua các bài kinh trong Citta SaÑyutta, SaÄǎyatana SaÑyutta.)

A Brief Story of Venerable Sudhamma

One day, the two Chief Disciples, accompanied by a thousand bhikkhu-disciples, visited the AmbǎÔaka monastery. (At that time, the Venerable Sudhamma was the Abbot of the monastery.) Citta the householder, donor of the monastery, made magnificent preparations to honour the visiting Sangha (without consulting the Venerable Sudhamma). The Venerable Sudhamma took exception to it and remarked: ‚There is one thing missing in this lavish array of offerings and that is sesame cake.‛ This was an innuendo to belittle Citta, whose family, in the earlier generation, consisted of a seller of sesame cakes.

Citta made a suitably rude response in vulgar language to the sarcastic remark of the Abbot, who was touched to the quick and took the matter to the Buddha. After listening to the Buddha’s admonition, the Abbot, Venerable Sudhamma, made amends to Citta. Then, staying at the AmbǎÔaka monastery, and practicing the Dhamma, the Venerable Sudhamma gained Insight and attained arahatship. (This is as mentioned in the Commentary on the A~guttara Nikǎya. for details refer to the Commentary on the Dhammapada, Book One; and Vinaya C|Äavagga, 4-PaÔisǎraÓīya kamma.)

1430

Citta’s Pilgrimage to The Buddha

(The following account is taken from the Commentary on the Dhammapada.) When the Venerable Sudhamma attained arahatship, Citta the householder reflected thus:

‚I have become a Never-Returner. But my stages of Enlightenment from sotǎpatti-phala to anǎgǎmī-phala had been attained without even meeting the Buddha. It behoves me to go and meet Him now.‛ He had five hundred carts fully laden with provisions, such as sesame, rice, ghee, molasses, honey, clothing, etc. for the long journey to Sǎvatthi. He made a public invitation to the populace in MacchikǎsaÓďa that anyone, bhikkhu, bhikkhunī, male lay disciple or female lay disciple, might, if they wished, join him on a pilgrimage to the Buddha and that he would see to every need of the pilgrims. And, in response to his invitation, there were five hundred bhikkhus, five hundred bhikkhunīs, five hundred male lay disciples and five hundred female lay disciples who joined him on the pilgrimage.

The two thousand pilgrims who joined Citta plus the one thousand of his entourage, totalling three thousand, were well provided for the thirty-yojana journey. However, at every yojana of his journey, on the way devas welcomed them with temporary shelter and celestial food, such as gruel, eatables, cooked rice and beverages and every one of the three thousand pilgrims was attended on to his satisfaction.

By travelling a yojana a day, meeting with the devas’ hospitality at every stop, the pilgrims reached Sǎvatthi after a month. The provisions carried in his five hundred carts were not used. They even had surfeit of provisions which were offered by the devas and human beings along the way, and which they donated to other persons.

On the day when the pilgrims were due to arrive in Sǎvatthi, the Buddha said to the Venerable Œnanda: ‚Œnanda, this evening Citta the householder, accompanied by five hundred lay disciples, will be paying homage to Me.‛ Œnanda asked: ‚Venerable Sir, are there miracles to happen then?‛

‚Yes, Œnanda, there will be miracles.‛

‚In what manner will they happen, Venerable Sir?‛

‚Œnanda, when he comes to me, there will rain a thick floral tribute of five hues that will rise to knee-deep over an area of eight karisas1.‛

This dialogue between the Buddha and Venerable Œnanda aroused the curiosity of the citizens of Sǎvatthi. People passed on the exciting news of Citta’s arrival, saying: ‚A person of great past merit by the name of Citta a householder, is coming to town. Miracles are going to happen! He is arriving today! We will not miss the opportunity of seeing such a great person.‛ With presents ready, they awaited on both sides of the road for the visitor and his friends.

When the pilgrim party arrived near the Jetavana monastery, the five hundred bhikkhus of the party went first. Citta told the five hundred female lay disciples to stay behind, and follow later and went to the Buddha accompanied by five hundred male lay disciples. (It should be noted that disciples paying homage to the Buddha were not an unruly crowd but well-disciplined; whether sitting or standing, they left a passageway for the Buddha to go to His raised platform, and they would remain motionless and silent on either side of the aisle.)

Citta then approached the aisle between a huge gathering of devotees. Whichever direction the ariya disciple, who had been established in the fruition of the three lower Paths glanced, the people murmured: ‚That is Citta the householder!‛ He became a thrilling object in that big gathering. Citta drew close to the Buddha and he was enveloped by the six Buddha-rays. He stroke the Buddha’s ankles with great reverence and vigour and then the floral tribute of five colours, described earlier, rained. People cheered enthusiastically loud and long.

Citta spent one whole month in close attendance on the Buddha. During that time, he

 
   

  1. karisa: a measure of land equivalent to 1.75 acres.

made a special request to the Buddha and His Sangha not to go out for alms-food but to accept his offerings at the monastery. All the pilgrims that had accompanied him also were taken care of in every aspect. In his month-long stay at the Jetavana monastery, none of his original provisions were used to feed everyone, for devas and humans made all sorts of gifts to Citta.

At the end of one month, Citta made obeisance to the Buddha and said: ‚Venerable Sir, I came with the intention of making offerings of my own property to the Bhagavǎ. I spent one month on the way and another month here in the Jetavana monastery. Still I have had no opportunity to offer my own property for I have been blessed with all sorts of gilts from devas and humans. It would seem that even if I were to stay here a year, I still may not have the chance to make offerings of my own property. It is my wish to deposit all my property I have brought here in this monastery for the benefit of the Sangha. May the Bhagavǎ be pleased to show me the place to do so.‛

The Buddha asked Venerable Œnanda to find a suitable place for Citta to off-load the five-hundred cart-loads of provisions and were then offered to the Sangha. Then Citta returned to MacchikǎsaÓďa with the five hundred empty carts, people and devas, seeing the empty carts, remarked in mild rebuke: ‚O Citta, had you done such deeds in the past as would lead to your going about with empty cans?‛ Then they loaded his empty carts to the full with seven kinds of treasures. Citta also received sufficient gifts of all kinds, with which he catered to the needs of the pilgrims till he reached MacchikǎsaÓďa in ease and comfort.

The Venerable Œnanda paid his obeisance to the Buddha and said:

‚Venerable Sir, Citta the householder took one month coming to Sǎvatthi, and spent another month at the Jetavana monastery. During this period, he had made great offerings with gifts received from devas and humans. He had emptied his five hundred carts of all provisions which he had brought, and was returning home with empty carts. However, people and devas who saw the empty carts said in mild rebuke: ‘Citta, you had done such deeds in the past as would lead to your going about with empty carts?’ And they are said to have filled Citta’s five hundred carts with seven kinds of treasures. And Citta is said to get home comfortably, looking after the needs of his companions with gifts received from devas and humans.

“Venerable Sir, may I be allowed to ask a question: Does Citta meet with such abundance of honour and tribute only because he was on a pilgrimage to the Buddha? Would he meet the same kind of honour and tribute if he were to go elsewhere?‛

The Buddha said to the Venerable Œnanda: ‚Œnanda, Citta the householder will receive the same kind of honour and tributes whether he comes to Me or goes elsewhere. This is indeed so, Œnanda, because Citta the householder had been one who had firm conviction about kamma and its consequences, both in the mundane aspect and the supramundane aspect. further, he had been fully convinced about the supramundane benefits that the Triple Gem are capable of. for a person of such nature, honour and tribute lines his path wherever he goes.‛

The Buddha further uttered this verse (translation in prose):

‚(Œnanda,) the ariya disciple who is endowed with conviction (regarding the mundane and the supramundane aspects) of one’s own actions and morality, and is possessed of following and wealth, is held in reverence (by men and devas) wherever he goes.‛

—— (Dh, V 303) ——

By the end of the discourse many hearers attained Path-Knowledge, such as Stream- Entry, etc.

(c)   Citta designated as The foremost Lay Disciple.

from that time onwards, Citta the householder went about accompanied by five hundred ariya lay disciples. On one occasion, when the Buddha was naming distinguished lay disciples according to their merit, He declared, (with reference to the discourses made by

1432

Citta as recorded in the Citta vagga of SaÄǎyatana saÑyutta:

Bhikkhus, among My lay disciples who are exponents of the Dhamma, Citta the Householder, is the foremost.‛

(The proficiency of Citta in expounding the Dhamma may be gleaned from SaÄyatana vagga SaÑyutta, 7-Citta saÑyutta, 1-SaÑyojana SaÑyutta, and 5- PaÔhǎna kǎmabh| Sutta).

The Gilǎnadassana Sutta

(The Gilǎnadassana Sutta, an example of Householder Citta’s discourse given even on his deathbed.)

As an anǎgǎmī-ariya who was the foremost expounder of the Dhamma among lay disciples, Citta the householder gave a discourse even on his deathbed. This story is given in Gilǎnadassana SaÑyutta in Citta SaÑyutta.

Once Citta was terminally ill. Then many devas who were guardians of the his premises, guardians of the forest, guardians of certain trees and guardians who had power over herbs and deified trees, (because of huge proportions), assembled before him and said to him:

‚Householder, now make a wish saying: ‘May I be reborn as the Universal Monarch when I die.’ ‛ Citta replied to them: ‚Being a Universal Monarch is impermanent in nature, unstable in nature. It is something that one must leave behind at last.‛

His relatives and friends by his bedside thought he was uttering those strange words in a fit of delirium and said to him: ‚Lord, be careful. Do not talk absent-mindedly.‛

Citta asked them: ‚You say: ‘Lord be careful. Do not talk absent-mindedly.’ With respect to what words of mine do you say so?‛ And the relatives and friends said: ‚Lord, you were saying: ‘Being a Universal Monarch is impermanent in nature, unstable in nature. It is something that one must leave behind at last.’ ‛

Citta then tell them: ‚O men, devas who are guardians of my premises, guardians of the forest, guardians of trees, guardians who have power over herbs and defied trees, came and said to me: ‘Householder, now make a wish saying: ‘May I be reborn as the Universal Monarch when I die.’ So I told them: ‘Being a Universal Monarch is impermanent in nature, unstable in nature. It is something ones must leave behind at last.’ I was not saying these words absent mindedly.‛

Thereupon Citta’s friend and relatives asked him: ‚Lord, what advantages did these devas see in advising you to wish for rebirth as Universal Monarch?‛

Citta replied: ‚O men, these devas thought that ‘this householder Citta has morality, has clean conduct, if he would wish for it he could easily have his wish fulfilled. One who is righteous can see benefits accruing to the righteous.’ This was the advantage they saw in advising me to wish for rebirth as a Universal Monarch. Thus, I replied to them: ‚Being a Universal Monarch is impermanent in nature, unstable in nature. It is something one must leave behind at last.’ I was not saying these words absent-mindedly.‛

The friends and relatives of Citta then asked him again: ‚In that case, Lord, give us some admonition.‛ And Citta gave his last discourse thus:

‚In that case, friend and relatives, you should practise with the resolve, ‘We will have perfect confidence in the Buddha, reflecting that:

  • The Buddha is called ArahaÑ because He is worthy of homage by the greatest of devas, humans and Brahmǎs.
  • The Buddha is called Sammǎsambuddha because He knows all things fundamentally and truly by His own perfect wisdom.
  • The Buddha is called Vijjǎcaraụasampaññǎ because He is endowed with supreme Knowledge and perfect practice of morality.
  • The Buddha is called Sugata because He speaks only what is beneficial and true.

  • The Buddha is called Lokavid| because he knows all the three worlds;
  • The Buddha is called Anuttaropurisa dammasǎrathi because He is incomparable in taming those who deserve to be tamed.
  • The Buddha is called Satthǎdeva manussana because He is the Teacher of devas and humans.
  • The Buddha is called Buddha because He makes known the four Ariya Truths;
  • The Buddha is called Bhagavǎ because He is endowed with the six great qualities of glory.

‘We will have perfect confidence in the Dhamma reflecting that:

  • The Teaching of the Bhagavǎ, the Dhamma, is well expounded.
  • Its Truths are personally appreciable.
  • It is not delayed in its results.
  • It can stand investigation.
  • It is worthy of being perpetually borne in mind.
  • Its Truths can be realized by the ariyas individually by their own effort and practice.

‘We will have perfect confidence in the Sangha reflecting that:

  • The eight categories of ariya disciples of the Bhagavǎ, the Sangha, are endowed with the noble practice.
  • They are endowed with straightforward uprightness.
  • They are endowed with right conduct.
  • They are endowed with the correctness in practice deserving reverence. (Being thus endowed with these four attributes:-)
  • The eight categories of ariya disciples of the Bhagavǎ consisting of four pairs are worthy of receiving offerings brought even from afar.
  • They are worthy of receiving offerings specially set aside for guests.
  • They are worthy of receiving offerings made for the sake of acquiring great merit for the hereafter.
  • (8)     They are worthy of receiving obeisance.
  • They are the incomparable fertile field for all to sow the seed of merit.

And also you should practice with the resolve: ‘We shall always lay everything we have to be at the disposal of donees who have morality and who conduct themselves well.’ ‛

Citta the householder then made his friends and relatives to be established in the routine of paying reverence to the Buddha, the Dhamma and the Sangha and in charity. With these last words he expired.

(The scriptures do not specifically say in which realm Citta the householder was reborn, but since he was an anǎgǎmin, he was presumed to be reborn in one of the fifteen Brahmǎ realms of fine Material Sphere outside of Non-Material Sphere, most probably in the Pure Abodes, Suddhǎ vǎsa Brahmǎ realm).

 

II. Câu chuyện về Citta

Mọi người thường nhầm tưởng rằng công việc của những Tăng Ni là thực hành và giảng dạy Giáo Pháp, trong khi đó, phần việc của các nam nữ cư sĩ là thực tập năm giới và hỗ trợ, chu cấp những gì thiết yếu cho hàng Tăng Ni. Đây là một niềm tin thiếu chính xác và thật sự nguy hiểm. Điều đó đã dẫn đến sự sai lạc về Giáo Pháp ở những quốc gia, mà niềm tin trên được phổ biến và chấp nhận rộng rãi. Mục tiêu của Đức Phật là phát triển một hội chúng đệ tử gồm xuất gia và tại gia, nam cùng với nữ, những người đã được học tập Giáo Pháp tường tận, thực hành Giáo Pháp trọn vẹn cũng như là biết chia sẻ và học hỏi Giáo Pháp lẫn nhau.1 Trong khi Đức Phật ca ngợi Anathapindika (Cấp-Cô-Độc), vì sự bố thí rộng khắp của ông, thì Ngài đã dành riêng lời khen ngợi cao nhất cho Citta của Macchikasanda và Hatthaka của Alavi bởi vì cả hai đều đã khéo léo và không ngừng bố thí một thứ quý giá hơn những thứ vật chất rất nhiều -đó chính là Giáo Pháp.2

 

 

Citta là mẫu người Phật tử mà sự hiểu biết và cách hành xử của ông, đã được Đức Phật thường khuyên mọi người nên noi theo. Vào một dịp, Đức Phật đã dạy các Thầy Tỳ Khưu rằng:

 

 

“Nếu một người mẹ tận tụy muốn khuyến khích người con trai yêu dấu duy nhất của mình một cách thích hợp, thì cô ấy nên nói với anh ta rằng: “Con hãy cố gắng trở thành như nam cư sĩ Citta và nam cư sĩ Hatthaka của Alavi.””3

 

 

Citta là một thương gia giàu có và là một địa chủ ở thị trấn Macchikasanda, không xa Savatthi. Bài Pháp đầu tiên mà ông được nghe dường như là từ Thầy Mahanama. Sau bài Pháp, ông đã dâng cúng đến Tăng chúng một khu vườn, mà trên đó ông cho xây dựng một tịnh xá vô cùng rộng lớn. Về sau, bất kỳ vị Tăng Ni nào du hóa đến Macchikasanda, đều luôn được đón chào nồng nhiệt và nhận được sự hỗ trợ đầy đủ. Đức Phật xem Citta là người hiểu biết và sáng suốt nhất trong hội chúng giáo thọ cư sĩ. Sau khi thọ lãnh Giáo Pháp, ông đã giảng giải lại cho những người trong thị trấn và hướng dẫn được năm trăm người trong số họ phát tâm vào đạo. Nhân một dịp, ông đã đưa tất cả những người mới đó đến Savatthi để gặp Đức Phật. Các bài kinh trong Tipitaka được giảng, và bởi Citta đã cho thấy sự thông hiểu sâu sắc của ông về các khía cạnh tinh tế nhất của Pháp, và thực sự về sau ông đã đạt được thánh quả Bất Lai.

 

 

Có một lần, khi một nhóm các Thầy đang ngồi thảo luận về Pháp tại một gian nhà trong tịnh xá mà Citta đã xây dựng. Một số Thầy cho rằng chính các đối tượng của tri giác (Sáu Trần) trói buộc tâm trí, trong khi những thầy khác lại nghĩ rằng các căn (Sáu Căn) mới chính là nguyên nhân của các vấn đề. Citta đi đến tu viện, và khi nhìn thấy các Thầy, ông hỏi họ đang thảo luận điều gì, và các Thầy đã kể lại cho ông. Khi đó Citta đã nói rằng:

 

 

“Bạch chư Đại Đức, hai thứ: các căn và các trần, là khác nhau. Con sẽ dùng một sự so sánh để các Thầy có thể hiểu ý của con. Giả sử một con bò đen và một con bò trắng được buộc lại với nhau bằng một cái ách hoặc sợi dây thừng. Bấy giờ liệu có đúng không nếu nói rằng con bò đen là sự ràng buộc của con bò trắng hoặc con bò trắng ràng buộc con bò đen?”

 

 

“Hẳn là không”, các Thầy trả lời. “Con bò đen không phải là xiềng xích trói buộc con bò trắng và con bò trắng cũng không phải là sự trói buộc của con bò đen. Cả hai đều bị trói buộc bởi cái ách hay sợi dây thừng.”

 

 

Citta đồng ý và nói: “Vâng, thưa các Đại Đức, cũng như thế, mắt không phải là gông cùm của các đối tượng thị giác và các đối tượng thị giác cũng không phải là gông cùm trói buộc mắt. Mà đúng hơn, chính dục nảy sinh từ sự tiếp xúc của cả hai mới là sự trói buộc. Và cũng tương tự như vậy với các căn (giác quan) và các đối tượng của chúng.”

 

 

Các Thầy đã rất hài lòng với sự giải thích và trả lời câu hỏi một cách sáng suốt và dễ hiểu của cư sĩ Citta.4

 

 

Vào một dịp khác, Thầy Kamabhu bị lúng túng bởi một trong những lời dạy của Đức Phật, đã đem hỏi Citta rằng liệu ông có thể giải thích ý nghĩa của nó không. Lời dạy đó là:

 

 

“Bộ phận được tinh thuần,
Mái trần che màu trắng,
Chỉ có một bánh xe,
Cỗ xe liên tục chạy.
Hãy xem vị đang đến,
Không vi phạm lỗi lầm,
Chặt đứt được dòng nước,
Không còn bị trói buộc.”

 

 

Từ cái thấy sâu sắc của mình, Citta đã giải thích bài kệ trên một cách chi tiết. Ông nói: “Bộ phận được tinh thuần” có nghĩa là giới hạnh, “mái trần che màu trắng” là sự giải thoát, “chỉ có một bánh xe” là chánh niệm, “liên tục chạy” là đến và đi. “Cổ xe” có nghĩa là thân thể, “vị đang đến” là người chứng ngộ, “dòng nước” là sự khát ái, “không vi phạm lỗi lầm”, “người chặt đứt được dòng nước” và “không còn bị trói buộc” nghĩa là người đã đoạn tận tất cả lậu hoặc.” Khả năng diễn giải những Giáo Pháp sâu sắc từ một bài kệ, mà thoạt nhìn dường như chỉ là một bài kệ với những từ ngữ đẹp của Citta, đã làm Thầy Kamabhu ngạc nhiên và hoan hỷ.5

 

 

Nhưng Citta không những chỉ có thể giảng dạy Giáo Pháp, mà ông còn có thể chứng tỏ sự vượt trội của nó so với các giáo lý khác. Một lần, Nigantha Nataputta, người sáng lập của Jaina giáo (Kỳ-Na-Giáo) và là một trong những vị Thầy tâm linh nổi tiếng nhất thời bấy giờ, đã đến Macchikasanda cùng với hội chúng đông đúc các đệ tử của mình. Khi Citta đi gặp Nataputta, vị Đạo sư ấy biết rằng Citta là đệ tử của Phật nên đã hỏi ông rằng:

 

 

“Ông có tin lời Đức Phật dạy rằng: Trạng thái thiền định mà mọi ý nghĩ đều dừng lại là có thể chứng đạt được?”

 

 

“Không”, Citta đã trả lời, “Đức Phật có dạy điều này nhưng tôi không tin vào nó.”

 

 

Ngạc nhiên và hài lòng khi thấy Citta dường như đang nói rằng ông nghi ngờ một số lời dạy của Đức Phật, Nataputta nhìn quanh tất cả các đệ tử của mình và nói:

 

 

“Hãy xem Citta thật là một người chính trực và thông tuệ. Bất cứ ai tin vào một trạng thái thiền định, trạng thái mà mọi suy nghĩ đều dừng lại tức là tin rằng có thể bắt trọn được tâm với một cái lưới hoặc là dùng tay chặn đứng dòng chảy của sông Hằng.”

 

 

Khi ông kết thúc, Cư sĩ Citta đã hỏi: “Điều gì tốt hơn, thưa tôn giả, là trí hay lòng tin?”

 

 

“Trí thù thắng hơn nhiều so với niềm tin”

 

 

Nataputta trả lời: “Vâng, tôi có thể đạt được trạng thái thiền định mà ở đó mọi ý nghĩ đều chấm dứt. Vậy thì tại sao tôi còn cần phải tin điều Phật nói là sự thật. Tự tôi đã biết nó là sự thật.”

 

 

Bực mình vì bị mất mặt, Nataputta một lần nữa nhìn quanh các đệ tử của mình và nói: “Hãy xem Citta này thật là một kẻ xảo quyệt, lừa lọc và không chân thật.”

 

 

Vẫn giữ vẻ bình tĩnh và thản nhiên trước cơn giận dữ, Citta nói: “Nếu lời nói đầu tiên của Tôn giả là đúng, thời lời tuyên bố thứ hai sẽ là sai, và nếu lời nói thứ hai của Tôn giả là đúng thời tuyên bố đầu tiên sẽ là sai lầm.” Nói xong, Citta đứng dậy và rời đi trong khi Nataputta khó khăn cố tìm cách trả lời.6

 

 

Về lúc cuối đời, Citta bị ốm nặng và gia đình ông biết chắc rằng ông không còn sống bao lâu nữa. Khi nằm trên giường bệnh của mình, chư thiên đã tụ hội lại quanh ông và khuyên ông nên hướng tâm mình tái sinh vào nơi giàu có và quyền thế. Biết rằng mình đã chứng đạt thánh quả Bất Lai (không còn trở lại) và đã định sẵn sẽ tái sinh về một trong những cõi trời cao, ông đã trả lời với chư thiên rằng: “Cái ấy là vô thường nên cần phải bỏ đi và vượt qua.” Không thể nhìn thấy chư thiên nên gia đình và bạn bè của Citta cho rằng ông đã mê sảng. Citta cho họ biết rằng ông đang nói chuyện với chư thiên và sau khi khuyến khích những người xung quanh trở về nương tựa Tam Bảo, ông đã nhẹ nhàng ra đi.7

Sách điển từ Online – Thời Phật tại thế Tâm Học 2022 : một cuốn sách dạng webs , sưu tầm các tài liệu về Cuộc đời Đức Phật , câu chuyện tại thế và tiền kiếp. Ngoài ra sách còn tra cứu những người và cuộc đời của người đó cùng thời Phật tại thế

Hits: 120

Post Views: 176