Đại Phật Sử – Cuốn 2 – Chương Xiv – Sự Giáo Hoá Ba Anh Em Ẩn Sĩ Và Một Ngàn Đạo Sĩ (2)

Đại Phật Sử – Cuốn 2 – Chương Xiv – Sự Giáo Hoá Ba Anh Em Ẩn Sĩ Và Một Ngàn Đạo Sĩ (2)

dai phat su tron bộCuốn sách này trình bày tác phẩm đầu tiên của công trình phiên dịch bộ sách ĐẠI PHẬT SỬ gồm 6 cuốn bằng tiếng Miến ra 8 cuốn bằng tiếng Anh, dựa vào bộ kinh Pãli “Mahā Buddhavamsa”, do Thượng tọa Mingun biên soạn.

Cuốn 1 này là dịch phẩm hoàn chỉnh bằng tiếng Anh kèm theo những chú thích và bình giải xoay quanh câu chuyện Đạo sĩ Sumedha.

Cuốn này chia làm hai phần”

– Phần đầu trình bày soạn phẩm của soạn giả

– Phần hai có nhan đề “The anudipani” hay Phụ chú giải”, gồm những bài giải thich chi tiết và sự liệt kê những điểm giáo lý trong phần đầu.

Tỳ Khưu Minh Huệ biên dịch

Mùa an cư năm 2000

Dưới đây chỉ là nội dung trích ra từ Tập II , III, IV, và 1 phần tập V

Cuộc đời Đức Phật – Đại Phật Sử


Sự thị hiện thần thông (Paṭihāriya) lần thứ mười hai

 Một dịp khác, khi năm trăm vị ẩn sĩ muốn làm lễ cúng dường lửa, họ ra sức chẻ củi thành những miếng nhỏ nhưng không thể làm được. Họ nghĩ rằng: “ Việc chúng ta không thể chẻ củi được rất có thể do năng lực thần thông của vị Sa-môn.”

Khi Uruvela-Kassapa kể lại vấn đề ấy với Đức Phật, Ngài hỏi: “ Này Kassapa, ngươi có muốn chẻ những khúc cây ấy không?” và Uruvela-Kassapa đáp lại: “ Thưa Đại Sa-môn, chúng tôi muốn chẻ những khúc cây ấy ra.” Do năng lực thần thông của Đức Phật, năm trăm khúc cây được chẻ ra thành những mảnh nhỏ ngay tức thì với những tiếng bửa củi phát ra cùng một lúc. Uruvela-Kassapa lại suy nghĩ: “ Vị Sa môn này có khả năng chẻ tức thì năm trăm khúc cây mà năm vị đệ tử của ta không tài nào làm được. Như vậy, vị Sa môn này có thần thông rất quảng đại. Nhưng dù vị ấy có thần thông quảng đại như vậy, vị ấy vẫn chưa phải là bậc A-la-hán với các lậu hoặc được đoạn tận giống như ta.”

 Sự thị hiện thần thông (Paṭihāriya) lần thứ mười ba

 Vào một dịp khác, năm trăm ẩn sĩ không thể đốt những đống củi cháy để cúng dường lửa dù họ cố gắng bằng mọi cách. Nhân đó họ suy nghĩ: “ Việc chúng ta không thể đốt củi cháy rất có thể do năng lực thần thông của vị Sa-môn.”

Khi Uruvela-Kassapa kể lại vấn đề ấy với Đức Phật, Ngài bèn hỏi: “Này Kassapa, ngươi có muốn những đống củi ấy bốc cháy không?” và Uruvela-Kassapa đáp lại: “ Thưa Đại Sa-môn, chúng tôi muốn những đống củi ấy bốc cháy.” Do năng lực thần thông của Đức Phật, năm trăm đống củi đồng loạt bốc cháy. Uruvela Kassapa lại suy nghĩ: “ Vị Sa môn này đã làm cho năm trăm đống củi đồng loạt bốc cháy mà năm trăm trăm đệ tử của ta không tài nào làm được. Như vậy, vị Sa môn này quả thật có thần thông rất quảng đại. Nhưng dù vị ấy có thần thông quảng đại như vậy, vị ấy vẫn chưa phải là bậc A-la-hán với các lậu hoặc đã diệt tận như ta.”

Sự thị hiện thần thông (Paṭihāriya) lần thứ mười bốn

Lại một dịp khác, năm trăm vị ẩn sĩ không thể dập tắt những đống lửa đang cháy sau khi đã làm lễ cúng dường lửa. Nhân đó, họ suy nghĩ: “ Việc chúng ta không thể dập tắt được những ngọn lửa có thể là do năng lực thần thông của vị Sa-môn.”

Khi Uruvela-Kassapa kể lại vấn đề ấy với Đức Phật, Ngài bèn hỏi: “Này Kassapa, ngươi có muốn những ngọn lửa được dập tắt không?” Và Uruvela-Kassapa đáp lại: “ Thưa Đại Sa-môn, chúng tôi muốn những ngọn lửa được dập tắt.” Do năng lực thần thông của Đức Phật, năm trăm đống lửa lớn liền bị dập tắt tức thì. Uruvela-Kassapa lại suy nghĩ: “ Vị Sa môn này có thể dập tắt cùng một lúc năm trăm đống lửa mà những đệ tử của ta không tài nào làm được. Như vậy vị Sa môn này có thần thông rất quảng đại. Nhưng dù vị ấy có thần thông quảng đại như vậy, vị ấy vẫn chưa phải là bậc A-la-hán với các lậu hoặc đã diệt tận giống như ta.”

Sự thị hiện thần thông (Paṭihāriya) lần thứ mười lăm

Lại một dịp khác, năm trăm ẩn sĩ đi xuống sông Nerañjara suốt những đêm mùa đông (được gọi là antaratthaka), khi trời có mưa tuyết lớn và thời tiết rất lạnh. Một số ẩn sĩ lầm lạc tin rằng: “Trồi lên khỏi nước một lần, những ác nghiệp có thể được tẩy sạch”, bèn leo lên bờ bằng cách trồi lên khỏi nước chỉ một lần (sau khi đã trầm mình trong nước). (Nhiều vị nuôi dưỡng niềm tin như vậy. Họ trầm mình trong nước chỉ vì không thể trồi lên nếu không trầm mình trong nước). Một số ẩn sĩ lầm lạc tin rằng: “ Do trầm mình một lần, những ác nghiệp có thể được tẩy sạch”, bèn trầm mình một lần, ngập cả đầu của họ, và lên bờ ngay khi họ trồi lên khỏi nước. (Chỉ một số ít có niềm tin như vậy).

Một số ẩn sĩ lầm lạc tin rằng: “ Nếu hụp xuống trồi lên nhiều lần trong nước thì những ác nghiệp có thể được tẩy sạch”, bèn xuống sông tắm bằng cách hụp xuống trồi lên nhiều lần trong nước. (Có nhiều vị ẩn sĩ chấp theo niềm tin như vậy).

Nhân đó, Đức Phật bèn tạo ra năm trăm lò sưởi. Những vị ẩn sĩ sưởi ấm ở năm trăm lò sưởi ấy khi họ ra khỏi nước. Nhân đó, năm trăm ẩn sĩ bèn suy nghĩ: “ Việc tạo ra năm trăm lò sưởi này chắc chắn là do năng lực thần thông của vị Sa-môn”. Và Uruvela-Kassapa bèn suy nghĩ: “ Vị Đại Sa-môn này quả thật có thể tạo ra năm trăm lò sưởi. Và như vậy, vị Sa-môn này quả thực có thần thông rất quảng đại. Nhưng dù vị ấy có thần thông quảng đại như vậy, vị ấy vẫn chưa phải là bậc A-la-hán với các lậu hoặc đã diệt tận giống như ta.”

Sự thị hiện thần thông (Paṭihāriya) lần thứ mười sáu

Một hôm, có một cơn mưa lớn sái mùa trút xuống trong rừng Uruvela, nơi Đức Phật đang trú ngụ, nước chảy xối xả. Chỗ Đức Phật đang ngụ nằm ở dưới thấp và do đó có thể bị ngập nước. Nhân đó, Đức Phật bèn suy nghĩ: “ Lành thay nếu ta ngăn không cho nước chảy vào quanh chỗ này, rồi đi kinh hành trên chỗ đất khô có nước bao quanh và có bụi che phủ dày đặc”.

Lúc bấy giờ, Uruvela-Kassapa khởi lên ý định rằng “ Mong rằng vị Sa-môn không bị dòng lũ cuốn đi”, bèn đi vào một chiếc ghe với nhiều vị ẩn sĩ và chèo đến chỗ Đức Phật đang ngụ. Quá đỗi kinh ngạc, vị ấy thấy rằng nước khắp quanh đã được ngăn chặn và Đức Phật đang đi kinh hành trên bãi đất khô, có nước bao quanh và có bụi che phủ dày đặc. Không thể tin vào mắt của mình, vị ấy bèn hỏi: “ Thưa Đại Sa-môn! Có phải Ngài thực sự đang đi kinh hành trên bãi đất khô, có nước bao quanh và có bụi che phủ dày đặc không?” Đức Phật đáp lại: “ Này Kassapa, quả thực đúng như vậy”, và rồi Ngài bay lên không trung khi các vị ẩn sĩ đang nhìn chăm chú, rồi Ngài đi xuống và ngồi trên chiếc ghe của họ. Uruvela-Kassapa lại suy nghĩ: “ Ngay cả dòng nước đang ào ạt chảy xiếc như vậy cũng không cuốn trôi vị Sa-môn. Như vậy, vị Sa-môn này quả thực có thần thông rất quảng đại. Nhưng dầu vị ấy có thần thông quảng đại như vậy, vị ấy vẫn chưa phải là bậc A-la-hán với các lậu hoặc đã diệt tận giống như ta.”

Uruvela Kassapa cùng với năm trăm đệ tử của vị ấy xuất gia Sa môn

Trong những ngày trước đây, khi ngũ quyền của các vị ẩn sĩ chưa trưởng thục, Đức Phật đã nhẫn nại chịu sự xem thường của họ và chờ đợi cho đến đến khi ngũ quyền của họ đến hồi trưởng thục. Như vậy gần ba tháng đã trôi qua. Xét thấy rằng các quyền của họ đã đến hồi trưởng thục, Đức Phật nói thẳng với họ và dẫn dắt họ đi vào con đường giải thoát.

Dù Đức Phật đã thị hiện thần thông để không bị cơn lũ cuốn trôi, vị đại ẩn sĩ vẫn lầm lạc cho rằng chỉ vị ấy mới là bậc A-la-hán với các lậu hoặc đã diệt tận, còn Đức Phật thì chưa phải là bậc A-la-hán hoàn toàn hết sạch các lậu hoặc. Trong khi vị ấy vẫn còn đang nuôi ý nghĩ lầm lạc như vậy, thì Đức Phật khởi lên ý nghĩ như vầy: “(Nếu ta cứ tiếp tục để mặc vị ấy) thì con người vô dụng này (tức Uruvela- Kassapa), kẻ còn xa vời với đạo và quả, sẽ tiếp tục nuôi dưỡng ý nghĩ lầm lạc trong thời gian dài rằng: ‘Vị Sa-môn này quả thật có thần thông rất quảng đại nhưng cho dù vị ấy có thần thông quảng đại như vậy, vị ấy vẫn chưa phải là bậc A-la-hán với các lậu hoặc đã diệt tận giống như ta.’ Ta sẽ làm cho vị ấy tỉnh ngộ.”

Sau khi suy nghĩ như vậy, Đức Phật bèn nói thẳng với Uruvela- Kassapa ba lần câu sau đây: “ Này Kassapa, (1) Ngươi không phải là bậc A-la-hán với các lậu hoặc (āsava) đã được đoạn tận, (2) Ngươi không phải là người đã chứng đắc A-la-hán đạo (arahatta-magga), (3) Thậm chí ngươi còn chưa thực hành chánh đạo dẫn đến arahatta- magga và arahatta-phala.

Nhân đó, Uruvela-Kassapa khởi tâm kinh cảm, xúc động mạnh mẽ, bèn phủ phục dưới chân Đức Phật và tha thiết thỉnh cầu: “ Bạch Đức Thế Tôn! Xin cho con được phép xuất gia và cụ túc giới trước sự hiện diện của Ngài.”

Đức Thế Tôn (biết rõ ngũ quyền của họ đã trưởng thục) bèn nói như vầy: “ Này Kassapa, ngươi là người lãnh đạo, dẫn đầu năm trăm đệ tử (sẽ không thích hợp nếu ngươi không báo tin cho họ biết). Trước hết ngươi nên hỏi ý kiến của năm trăm đệ tử, họ có thể làm điều gì mà họ nghĩ là đúng”.

Như thế, Uruvela-Kassapa đi đến năm trăm đệ tử của vị ấy và nói với họ rằng: “ Này các ẩn sĩ, ta muốn sống cuộc đời phạm hạnh dưới sự dẫn dắt của vị Đại Sa-môn. Các ngươi có thể làm điều gì mà các ngươi thấy thích hợp.” “Thưa đại giáo chủ, từ lâu chúng tôi đã có niềm tin nơi vị Đại Sa-môn này.” (Từ khi rắn chúa bị  nhiếp phục),  các ẩn sĩ đáp lại: “ Nếu thầy sống cuộc đời phạm hạnh dưới sự dẫn dắt của vị Đại Sa-môn ấy, thì tất cả chúng tôi, năm trăm đệ tử cũng sẽ làm như vậy.”

Rồi Uruvela Kassapa cùng với năm trăm ẩn sĩ bèn cởi bỏ những búi tóc của họ, mang những vật dụng cá nhân, những món thờ lửa, những đòn gánh và những cây khơi lửa đem thả xuống dòng sông Nerañjarā. Sau đó, họ đi đến Đức Phật, phủ phục dưới chân Ngài và tác bạch rằng: “Bạch Đức Thế Tôn! Xin cho chúng con được thọ phép xuất gia và cụ túc giới trước sự hiện diện của Ngài.”

Nhân đó, Đức Thế Tôn nói rằng: “ Etha bhikkhave, v.v…” nghĩa là: “Hãy đến, này các tỳ khưu. Hãy thọ lãnh phép xuất gia và cụ túc giới mà các ngươi đã thỉnh cầu. Pháp đã được Như Lai khéo thuyết giảng. Hãy cố gắng thực hành ba pháp học của bậc thánh trong ba phương diện của chúng để chấm dứt luân hồi.” Ngay khi Đức Phật vừa đưa bàn tay màu vàng ròng ra và gọi “Etha bhikkhave” thì Uruvela Kassapa và năm trăm đệ tử của vị ấy liền trở thành những vị tỳ khưu cụ túc, giống như những vị trưởng lão đã trải qua sáu mươi hạ lạp với đầy đủ y phục và tám món vật dụng do thần thông tạo ra, mỗi thứ ở đúng chỗ của nó, đang tôn kính làm lễ Đức Phật. Tướng mạo ẩn sĩ của họ đã biến mất một cách kỳ diệu vì họ đã biến thành những vị tỳ khưu.

Nadī-Kassapa (người em giữa) cùng với ba trăm đệ tử xuất gia tỳ khưu

Nadī-Kassapa đang sống theo con sông Nerañjarā, khi trông thấy các món vật dụng ẩn sĩ của Uruvela-Kassapa và năm trăm đệ tử thả trôi trên sông, Nadī-Kassapa bèn suy nghĩ: “ Mong rằng không có điều nguy hại nào xảy đến với người anh cả của ta.” Vị ấy sai một hai đệ tử của mình đi trước và bảo rằng: “ Hãy đi tìm hiểu xem có chuyện gì xảy đến anh của ta” rồi vị ấy cùng với số đệ tử còn lại đi đến chỗ Uruvela-Kassapa đang ngụ. Khi đi đến người anh cả, vị ấy hỏi: “ Thưa đại huynh Kassapa, phải chăng địa vị một bhikkhu cao quý và đáng tôn trọng hơn?”

Khi Uruvela Kassapa đáp lại: “ Đúng vậy, này hiền đệ, địa vị một bhikkhu cao quý và đáng tôn trọng hơn nhiều”, Nadī-Kassapa cùng ba trăm đệ theo gương Uruvela-Kassapa và năm trăm đệ tử của vị ấy, đem những vật dụng của ẩn sĩ và những dụng cụ để cúng dường lửa thả xuống dòng sông Nerañjarā, rồi họ đi đến Đức Phật và phủ phục dưới chân của Ngài, nói lời thỉnh cầu như sau: “ Bậc Đức Thế Tôn! Xin cho chúng con được xuất gia và thọ cụ túc giới trước sự hiện diện của Ngài.”

Nhân đó, Đức Thế Tôn nói rằng: “ Etha Bhikkhave…” nghĩa là: “Hãy đến, này các tỳ khưu. Hãy thọ lãnh phép xuất gia và cụ túc giới mà các ngươi đã thỉnh cầu. Pháp đã được Như Lai khéo thuyết giảng. Hãy cố gắng thực hành ba pháp học của bậc Thánh trong ba phương diện ngõ hầu chấm dứt luân hồi.” Ngay khi Đức Phật vừa đưa bàn tay màu vàng ròng ra và gọi “ Etha Bhikkhave ” thì Nadī-Kassapa và ba trăm đệ tử liền trở thành những vị tỳ khưu cụ túc, giống như những vị trưởng lão đã trải qua sáu mươi hạ lạp với đầy đủ y phục và tám món vật dụng do thần thông tạo ra, mỗi thứ ở đúng chỗ của nó, đang tôn kính làm lễ Đức Phật. Tướng mạo ẩn sĩ của họ đã biến mất một cách kỳ diệu vì họ đã biến thành những vị bhikkhu. ”

Gayā-Kassapa và hai trăm đệ tử xuất gia Bhikkhu

Khi Gayā-Kassapa đang sống ở hạ lưu sông Nerañjarā, trông thấy những vật dụng của các vị ẩn sĩ được thả trôi trên dòng sông do Uruvela-Kassapa cùng năm trăm đệ tử và Nadī-Kassapa cùng với ba trăm đệ tử, Gayā-Kassapa bèn suy nghĩ: “ Mong rằng chẳng có nguy hiểm nào xảy đến cho hai anh Uruvela-Kassapa và Nadī-Kassapa của ta.” Vị ấy cho hai hoặc ba đệ tử đi trước với lời nhắn nhủ rằng: “ Hãy đi và tìm hiểu xem hai anh của ta như thế nào rồi”, và vị ấy cùng số đệ tử còn lại đi đến chỗ Uruvela-Kassapa đang trú ngụ. Khi đi đến người anh cả, Gayā-Kassapa bèn hỏi rằng: “ Thưa anh cả Kassapa, phải chăng địa vị một bhikkhu cao quý và đáng tôn trọng hơn nhiều?”

Khi nghe Uruvela-Kassapa đáp lại: “ Đúng vậy, này hiền đệ, địa vị một bhikkhu cao quý và đáng tôn trọng hơn”, Gayā-Kassapa và hai trăm đệ tử theo gương Uruvela-Kassapa, đem những vật dụng của ẩn sĩ và những dụng cụ thờ lửa thả xuống dòng sông Nerañjarā.  Rồi họ đi đến Đức Phật và phủ phục dưới chân Ngài mà thỉnh cầu: “ Bạch Đức Thế Tôn, xin cho chúng con được thọ phép xuất gia và cụ túc  giới trước sự hiện diện của Ngài.”

Nhân đó, Đức Phật nói rằng : “ Etha Bhikkhave, v.v…” nghĩa là: “ Hãy đến, này các tỳ khưu. Hãy thọ lãnh phép xuất gia và cụ túc giới như các ngươi đã thỉnh cầu. Pháp đã được Như Lai khéo thuyết giảng. Hãy cố gắng thực hành ba pháp học của bậc Thánh trong ba phương diện bậc cao ngõ hầu chấm dứt luân hồi.” Ngay khi Đức Phật vừa đưa cánh tay màu vàng ròng ra và gọi “Etha Bhikkhave” thì Gayā Kassapa và hai trăm đệ tử liền biến thành những vị bhikkhu cụ túc, giống như những vị trưởng lão đã trải qua sáu mươi hạ lạp với đầy đủ y phục và tám món vật dụng do thần thông tạo ra, mỗi thứ ở đúng chỗ của nó, đang tôn kính làm lễ Đức Phật. Tướng mạo ẩn sĩ của họ đã biến mất một cách kỳ diệu vì họ đã biến thành những vị bhikkhu.

Đức Phật thuyết giảng Kinh Ādittapariyāya

Sau khi ngụ một thời gian dài tại Uruvela để tế độ cho ba anh em đạo sĩ và một ngàn đệ tử của họ, Đức Phật lên đường đi đến Gayāsīsa, nơi có một tảng đá (trông như cái trán của con voi) gần ngôi làng Gayā, cùng với một ngàn vị tỳ khưu mà trước kia là những ẩn sĩ, Đức Phật ngồi trên tảng đá giữa một ngàn vị bhikkhu.

Sau khi an tọa, Đức Phật suy xét: “ Loại Pháp nào sẽ thích hợp với một ngàn vị tỳ khưu này?” và quyết định: “ Những người này đã từng cúng dường lửa mỗi ngày mỗi đêm. Nếu Ta thuyết giảng Kinh Ādittapariyāya, mô tả sự cháy nóng liên tục của mười hai xứ (āyatana) do mười một ngọn lửa, thời họ sẽ chứng đắc arahatta- phala.” Sau khi đã quyết định như vậy, Đức Phật thuyết giảng Kinh Ādittapariyāya, mô tả tánh cách của sáu căn, sáu cảnh, sáu thức, sáu xúc, mười tám thọ, khởi sanh do xúc (phassa paccayā vedanā) đang bùng cháy bởi lửa tham (rāga), lửa sân (dosa), lửa si (moha), lửa sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu và não.

Khi Đức Phật thuyết giảng bài kinh, một ngàn vị bhikkhu chứng đắc lần lượt bốn Đạo Tuệ và trở thành những vị A-la-hán với các lậu hoặc (āsava) được đoạn tận. Do đó, tâm của một ngàn vị bhikkhu hoàn toàn thoát khỏi các lậu hoặc vì họ đã đoạn diệt hoàn  toàn thủ do ái (taṇhā) sanh và tà kiến (diṭṭhi) đối với các pháp như “ cái này là ta, cái này là của ta.” Họ hoàn toàn thoát khỏi các āsava, chúng đoạn diệt không khởi sanh nữa.

[ Những chi tiết về Ādittapariyāya Sutta được trình bày trong Chương Pháp Bảo (Dhamma Ratana) ]

 

 

 



Nguồn : Source link vuonhoaphatgiao.com

Sách điển từ Online – Thời Phật tại thế Tâm Học 2022 : một cuốn sách dạng webs , sưu tầm các tài liệu về Cuộc đời Đức Phật , câu chuyện tại thế và tiền kiếp. Ngoài ra sách còn tra cứu những người và cuộc đời của người đó cùng thời Phật tại thế

Hits: 5

Post Views: 83