Kinh Trung Bộ Nikaya P1

Kinh Trung Bộ Nikaya P1

Phần I  –  Phần II  –  Phần III

Ukkattha, trong rừng Subhaga (rừng Hạnh phúc), dưới gốc cây Sa-la vương (Kosala)
 

Kẻ phàm phu vì không thân cận bậc thánh, lại do tưởng tượng từ 24 vấn đề, nên từ đó sanh khởi thân kiến. Gốc rễ của thân kiến chính là ái, mạn và tà kiến.

Bậc Thánh hữu học, không còn tưởng sai biệt, đối với 24 vấn đề trên các ngài tuy chưa thông suốt nhưng tâm không còn tưởng sai biệt dẫn dắt khiến phải rơi vào thân kiến.

Đức Phật
checked
Khi trú ngụ tại Ukkaṭṭhā, trong rừng Subhaga, dưới cội đại thọ Sa-la, Đức Thế Tôn thuyết giảng lên kinh này để nhiếp phục sự ngã mạn của 500 vị Tỷ kheo  dòng Bà la môn thuộc bộ tộc Licchavī
Các tỳ kheo
checked
Savatthi (Xá-vệ), tại Jetavana (Kỳ-đà Lâm)
 
Nếu bản kinh số 1 giới thiệu các phiền não, lậu hoặc khởi lên là do nhận thức hữu ngã, do không thắng tri, không liễu tri các hiện hữu, thì bản kinh số 2 giới thiệu các phương cách để nhiếp phục, loại trừ các phiền não lậu hoặc ấy.
Đức Phật
checked
 
Các tỳ kheo
checked
 Sàvatthi, tại Jetavana, vườn ông Anàthpindika
 
  1. Đức Thế Tôn dạy tất cả hàng đệ tử của Ngài nên đi theo con đường thực hành phạm hạnh, sống viễn ly. Đó là ý nghĩa “thừa tự pháp”, mà không nên thừa hưởng vật chất (thức ăn, sàng tọa, y phục, chỗ ở).

Những ai “thừa tự pháp” thì đáng được tán thán; những ai “thừa tự tài vật” thì đáng bị quở trách.

  1. Tôn giả Sàriputta (Xá Lợi Phất) đã mở rộng ý nghĩa “thừa tự pháp” bằng cách thực hành phạm hạnh: tu tập Trung đạo (Bát Thánh đạo) để đoạn trừ dục tâm, sân tâm, hại tâm, ác tâm hướng đến chứng ngộ giải thoát, Niết bàn (đoạn tận lậu hoặc).
Đức Phật , Tôn giả Sariputa
checked
Bản kinh số 3 tuy rất ngắn, giản đơn nhưng rất quan trọng trong việc xác định thực hiện đời sống phạm hạnh đồng đẳng giữa các hàng Tỷ kheo: đây là nếp sống giải thoát dành cho tu sĩ của mọi thời đại mà bản kinh số 5 sẽ mở đầu giới thiệu bước đi cụ thể.
Sariputa, Các tỳ kheo 
checked
Savatthi (Xá-vệ), tại Jetavana (Kỳ-đà Lâm)
 
  1. Ý nghĩa: “thừa tự pháp” là thực hành phạm hạnh qua đời sống viễn ly, sống ở nơi xa vắng trong các rừng, núi. Bản kinh số 4 trình bày rõ những ai có thể sống đời sống viễn ly, và những ai không thể. Kinh cũng nêu rõ lý do có thể và không thể.
  2. a) Những người có thể sống đời sống viễn ly:

– Đã chứng định hoặc không vướng vào 10 ác nghiệp (hay 3 nghiệp thân, khẩu, ý bất tịnh).

– Người thực hành tốt Chánh ngữ, Chánh nghiệp và Chánh mạng.

– Người đã chế ngự Ái dục.

– Người đã loại trừ sân tâm, ác tâm, hại tâm.

– Người đã đoạn trừ “Ngũ cái”.

– Người đã chế ngự “Bát phong” (được, mất, khen, chê, thị, phi, danh vọng, lợi dưỡng).

– Người tinh tấn và có trí tuệ mạnh.

  1. b) Ngược lại với hạng người trên thì không thể sống đời sống viễn ly. Nếu hạng người này dấn thân vào nếp sống độc cư, viễn ly thì tâm sẽ trở nên rất sợ hãi, khiếp đảm, bất thiện tâm sẽ khởi dậy.
  2. Đức Thế Tôn khi còn là vị Bồ tát là vị có đầy đủ điều kiện tâm lý để sống viễn ly. “Ngài là vị hữu tình không có si ám, sinh ra ở đời vì hạnh phúc cho muôn loài, vì an lạc cho muôn loài, vì lòng thương tưởng cho đời, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời và loài Người”. Ngài đã mở đườngnêu cao đời sống viễn ly để thành tựu phạm hạnh: thành tựu Tứ sắc định và thiền quán để đi vào Tam minh, chứng đắc Chánh đẳng Chánh giác.
Đức Phật
checked
3. Sau khi giác ngộ Phật quả, Đức Thế Tôn vẫn tiếp tục đời sống viễn ly trong núi, rừng không phải để đoạn trừ các lậu hoặc mà vì “hiện tại lạc trú” (để có đầy đủ sức khỏe hoằng đạo) và vì “thương tưởng chúng sanh trong tương lai” (nêu cao nếp sống viễn ly).
Bà-la-môn Janussoni
checked
Thế Tôn ở Savatthi (Xá-vệ), tại Jetavana (Kỳ-đà Lâm)
 
  1. Tôn giả Sàriputta phân biệt có 4 hạng người ở đời:
  2. a) Hàng thiếu trí tuệ, không biết mình đang có các tâm cấu uế.
    b) Hạng thiếu trí tuệ, không biết mình đang không có tâm cấu uế.
    c) Hạng có trí tuệ, biết mình đang có tâm cấu uế .
    d) Hạng có trí tuệ, biết mình đang không có tâm cấu uế .

Hai hạng người có trí tuệ là ưu thắng trong nhũng người có tâm cấu uế, và không có tâm cầu uế. Hai hạng người kia là hạ liệt.

– Hạng ưu thắng sẽ hướng tâm về vô tham, vô sân, vô si và nuôi dưỡng tâm vô tham, vô sân, vô si.

– Hạng hạ liệt tiếp tục đi sâu vào các tâm cấu uế, hay sẽ tiếp tục rơi vào tâm cấu uế .

Trong bốn hạng người ấy, trí tuệ thấy rõ tâm là nhân tố quyết định hướng về giải thoát hay quyết định giải thoát.

Tôn giả Sariputa , Tôn giả Mahamoggallana (Ðại Mục-kiền-liên) 
checked
  1. Vị Tỷ kheo quyết tâm giải thoát thì cần bám chặt hai điểm thực hiện:
  2. a) Sống đời sống viễn ly.
    b) Tẩy sạch các cấu uế của tâm.
Các tỳ kheo
checked
Thế Tôn ở Savatthi (Xá-vệ), tại Jetavana (Kỳ-đà Lâm)
 

Bản kinh đề cập cụ thể các ước nguyện tốt đẹp của một Tỷ kheo và con đường thành tựu ước nguyện ấy. Con đường đó là lộ trình giảt thoát phải đi qua, cụ thể là:

– Thành tựu giới bổn (Giới học);
– Giữ nội tâm tịch tĩnh và tinh tấn hành Thiền định (Định học);
– Thành tựu quán hạnh (Tuệ học);
– Sống tại trú xứ không tịch (“Hiện tại lạc trú”).

Các ước nguyện trên là động lực giải thoát, là giấc mơ đẹp, cao khiết của sứ mệnh tự độ và độ tha.

Nội dung chứng đạt của các ước nguyện trên là:

– Đầy đủ “tứ sự cúng dường”;
– Có tâm giải thoát (thoát khỏi các phiền não);
– Có khả năng đi lại tự tại trong thế giới này: trên không, trên nước, trong nước, qua đất…;
– Nghe và hiểu, xa-gần, các ngôn ngữ của chư Thiên và loài Người (có lẽ cả nói nữa);
– Hiểu trực tiếp tâm lý của con người và các chúng sinh,
– Đoạn tận lậu hoặc. Hiểu rõ tất cả pháp.

Đức Phật
checked
Bản kinh đề cập cụ thể các ước nguyện tốt đẹp của một Tỷ kheo và con đường thành tựu ước nguyện ấy. 
Các tỳ kheo
checked
 Thế Tôn ở Savatthi (Xá-vệ), tại Jetavana (Kỳ-đà Lâm)
 
  1. 1.“Vídụ tấm vải” giới thiệu hai giai đoạn công phu giải thoát:
  2. a) Giai đoạn đầu và rất là nền tảng là tẩy sạch các tâm cấu uế như “Ngũ cái”, các ác, bất thiện tâm phát sinh do “Ngũ cái”.Đây là bước công phu giữ tâm tịnh như một tấm vải tinh sạch. Định và Tuệ chỉ có thể phát triển tốt từ tâm này.
  3. b) Giai đoạn tiếp là nhờ tâm tịnh mà thấy rõ mục tiêu phạm hạnh và thấy rõ sự thật của vạn hữu; từ thành tụu này, hành giả phát khởi lòng tin bất thối vào ngôi Tam bảo; từ tín, hân hoan sinh, hỷ sinh, khinh an sinh, định sinh. Tại đây, ở đệ tứ Sắc định, hành giả hành Tứ vô lượng tâm, vượt qua hết thảy các ngã tưởng, lần lượt đoạn trừ dục lậu, hữu lậu và vô minh lậu, đắc quả A la hán, thành tựu phạm hạnh.
Đức Phật
checked
3. “Ví dụ tấm vải”, ngoài hai điểm giáo lý nêu trên, xác quyết rằng giải thoát nghiệp là công phu tu tập tâm, chuyển hóa tâm do mỗi người tự thực hiện cho chính mình, không thể, không bao giờ ngoại cảnh (sông, núi v.v…) hay các nghi lễ, chú thuật loại trừ được khổ nghiệp thay thế con người.
 Bà-la-môn Sundarika Bharadvaja , các tỳ kheo
checked
Thế Tôn ở Savatthi (Xá-vệ), tại Jetavana (Kỳ-đà Lâm)
 
  1. Bản kinh đã phân biệt ý nghĩaĐoạn giảm(hay đối trị, hoặc khởi tâm, tác ý) thì khác với “Hiện tại lạc trú”, khác với “Tịch tịnh trú”. Công phu đoạn giảm bao gồm các việc:
  2. a) Chánh quán với trí tuệ rằng: “Cái này không phải của tôi, không phải là tôi, không phải là tự ngã của tôi” để trừ bỏ, xả ly các sở kiến về ngã luận và thế giới luận, vốn thuộc hý luận, không phù hợp với chánh trí.
  3. b) Khởi niệm tác ý đến sự từ bỏ các tâm cấu uế, các tà kiến, tà tư duy… tà định, tà giải thoát, từ bỏ 10 tà nghiệp, 5 triền cái, tà hữu (bạn tà). Tác ý cái chánh đểđối trị cái tàcũng gọi là đoạn giảm, cũng gọi là hướng thượng, và cũng gọi là giải thoát khỏi các tà niệm, ác niệm, bất thiện niệm.

Công phu đoạn giảm thật sự là công phu tẩy sạch các tâm cấu uế vậy.

Đức Phật
checked
2. Sau công phu tác ý đoạn giảm là công phu hành thiền định để có điều kiện phát triển trí tuệ, hoàn thành phạm hạnh.
 Tôn giả Maha Cunda
checked
Thế Tôn ở Savatthi (Xá-vệ), tại Jetavana (Kỳ-đà Lâm)
 
  1. KinhChánh Tri Kiếndo Tôn giả Sàriputta, bậc Tướng quân Chánh pháp dạy.

Chánh tri kiến (sammàditthi) là chi phần dẫn đầu của Bát Thánh đạo, là linh hồn của “Đạo đế”, của mọi công phu tu tập dẫn đến thành tựu phạm hạnh. Vắng mặt linh hồn ấy thì chẳng có gì gọi là Phật giáo. Vì tầm quan trọng đó nên Tôn giả Sàriputta đã cặn kẽ định nghĩa Chánh tri kiến rằng:

– Tuệ tri bất thiện và căn gốc của bất thiện: Chánh tri kiến.

– Tuệ tri thiện và căn gốc của thiện: Chánh tri kiến.

– Tuệ tri được thức ăn (đoàn thực, xúc thực, thức thực và tư niệm thực) và căn gốc của thức ăn: Chánh tri kiến.

– Tuệ tri khổ (Khổ, tập, diệt, đạo): Chánh tri kiến.

– Tuệ tri từng chi phần Duyên khởi: Chánh tri kiến.

Tôn giả Sariputta
checked
2. Khi hành giả có Chánh tri kiến là khi ấy hành giả đoạn tận tham tùy miên, sân tùy miên và kiến mạn tùy miên “Tôi là” (đoạn tận si), khiến minh khởi, vô minh diệt, dẫn đến đoạn tận khổ đau trong hiện tại.
Các tỳ kheo
checked
Thế Tôn ở xứ Kuru (Câu-lâu), Kammassadhamma (kiềm-ma sắt đàm)
 
  1. Pháp môn Tứ niệm xứ là “con đường độc nhất đưa đến thanh tịnh cho chúng sinh, vượt khỏi sầu não, diệt trừ khổ ưu, thành tựu Chánh trí, chứng ngộ Niết bàn”.

Tứ niệm xứ là pháp môn căn bản để thành tựu viên mãn 37 phẩm trợ đạo. Tất cả các pháp môn giải thoát đều được thực hiện trên cơ sở thành tựu của Niệm lực và Định lực mà phần căn bản sự thực hành của Tứ niệm xứ đem lại. Tứ như ý túc, Ngũ căn, Ngũ lực, Thất giác chi và Bát Thánh đạo đều bao gồm công phu của Tứ niệm xứ (xem 37 phẩm trợ đạo ở Tương Ưng Bộ kinh V). Tứ vô lượng tâm cũng thế, chỉ có thể thực hành có kết quả trên sự thành tựu của Định lực (Tứ sắc định). Nói khác đi, Tứ niệm xứ mở ra con đường độc nhất đoạn tận khổ đau.

Đức Phật
checked
  1. Đối tượng giác sát, theo dõi của Tứ niệm xứ là:

– Thân niệm xứ, hay thân hành là Sắc uẩn;
– Thọ niệm xứ hay các cảm thọ, là Thọ uẩn;
– Tâm niệm xứ, hay các tâm hành, là Hành uẩn;
– Pháp niệm xứ (Ngũ uẩn…).

Thực sự ở bất cứ đối tượng quan sát nào cũng có mặt đủ các quá trình vận hành của tâm lý và vật lý (hay 5 uẩn). Quan sát một đối tượng là quan sát sự vận hành của 5 uẩn hay 12 nhân duyên. Do vậy mà Đức Thế Tôn dạy: “Tứ niệm xứ là con đường độc nhất”…

Các tỳ kheo
checked
Thế Tôn ở Savatthi (Xá-vệ), tại Jetavana (Kỳ-đà Lâm)
 

Bản kinh trình bày sự khác biệt nền tảng giữa Phật giáo và các tôn giáo, triết thuyết khác, qua một số điểm tiêu biểu như:

  1. Chỉ ở Phật giáo mới có tứ quả Sa môn (tứ Thánh quả), ngoại đạo không thể có. Các đệ tử Đức Thế Tôn tin tưởng vào lời dạy của Thế Tôn về sự khác biệt này do có “tứ bất hoại tín” (tin Phật, tin Pháp, tin Tăng (giáo đoàn) và tin Giới.
  2. Đã là chân lý thì chỉ có một. Giữa khi ngoại đạo chủ trương hữu kiến (chấp thường), hoặc phi hữu kiến (chấp đoạn) thì Phật giáo vượt ra khỏi thường đoạn (không chấp hữu, không chấp vô) mà tuyên bố sự thật là “Trung đạo”, hay Duyên khởi.

Ngoại đạo do vì vướng vào chấp thường, đoạn mà không thể có tuệ tri về sự tập khởi và sự đoạn diệt của hai loại tri kiến ấy. Họ cũng không thể tuệ tri vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly khỏi các tri kiến nọ.

Ngoại đạo vướng vào chấp thủ kiến nên vướng vào vòng trói buộc của tham, sân, si, ái, thủ, thiếu trí tuệ, bị rơi vào thuận ứng, nghịch ứng, ưa thích hý luận dẫn đến già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não.

Đức Phật
checked
Các đệ tử của Đức Phật, hay đệ tử của đệ tử Đức Phật, do vì có trí tuệ về Trung đạo, nên tuệ tri rõ con đường xuất ly khỏi các trói buộc kia, đi đến giải thoát khỏi sinh tử khổ đau.
Các tỳ kheo
checked
Địa điểm
 
  1. 1.Giáo hóa chúngđệ tử, Đức Thế Tôn vận dụng thân giáo và khẩu giáo, mà không hay rất hiếm sử dụng các thần túc thông, vì thế tu sĩ Sunakkhatta chỉ trích Đức Thế Tôn bốn điểm như là lý do khiến ông ta từ bỏ nếp sống phạm hạnh. Bốn điểm ấy là:

(a) Đức Thế Tôn không có pháp thượng nhân (các thần túc thông).
(b) Đức Thế Tôn không có tri kiến thù thắng về trí tuệ (hay tuệ giải thoát).
(c) Đức Thế Tôn thuyết pháp do tự mình khám phá, tự mình suy luận, tùy thuận trắc nghiệm.
(d) Thế Tôn thuyết pháp cho một mục tiêu đặc biệt, có khả năng hướng thượng, có thể dẫn đưa người thực hành đến chỗ diệt tận khổ đau.

– Về điểm (a), thực ra Đức Thế Tôn có đầy đủ các thần thông tối thắng về thiên nhĩ, tha tâm và thần túc, có đại định thù thắng (tâm giải thoát).

– Về điểm (b), Đức Thế Tôn thực sự có đủ tam minh: Túc mệnh minh, Thiên nhãn minh và Lậu tận minh (tuệ giải thoát).

– Về điểm (c) và (d), đó là sự thật của Thế Tôn. Nhưng, nhìn kỹ hai lời chỉ trích nầy là những lời tán thán chân chính về Thế Tôn.

Đức Phật
checked
Giáo hóa chúng đệ tử, Đức Thế Tôn vận dụng thân giáo và khẩu giáo, mà không hay rất hiếm sử dụng các thần túc thông, vì thế tu sĩ Sunakkhatta chỉ trích Đức Thế Tôn bốn điểm như là lý do khiến ông ta từ bỏ nếp sống phạm hạnh
tu sĩ Sunakkhatta , tôn giả Sariputa , Tôn giả Nagasamala
checked
Thế Tôn ở Savatthi, tại Jetavana (Kỳ-đà Lâm)
 
  1. Để chỉ rõ sự khác biệt trên, kinh dài “Khổ uẩn” này nêu ra ba khía cạnh để hiểu rõ mọi sự vật, đó là: tuệ tri vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly sự vật ấy.

Về dục:

– Vị ngọt của dục: đối tượng của lòng dục là sắc, thinh, hương, vị và xúc khả ái, khả hỷ, khả lạc. Hỷ lạc khởi lên từ đối tượng dục là vị ngọt của đối tượng.

– Nguy hiểm của dục: Để thỏa mãn lòng ham muốn vị ngọt của sắc pháp, con người dấn thân vào các sinh kế để tồn tại và phát triển, dấn thân vào đường danh lợi, chịu đựng sự bức ép, quấy nhiễu của thời tiết, sâu bọ… sự mất mát các sở hữu v.v… mà đi vào cạnh tranh, đấu tranh, chiến tranh… đi vào các nguy hiểm dẫn đến tử vong, bất chấp nhân nghĩa… Đây là khía cạnh nguy hiểm của dục.

– Sự xuất ly dục: là sự chế ngự lòng ham muốn, tham ái; là sự loại bỏ lòng ham muốn. Tuệ tri được ba khía cạnh trên của lòng dục, con người mới thực sự hiểu rõ dục. Hiểu rõ lòng dục thì mới có thể nêu rõ sự hiểu biết về nó.

Về sắc pháp:

– Vị ngọt: nhan sắc mỹ diệu của người khác phái, tiêu biểu là nữ giới, là vị ngọt của sắc pháp.

– Sự nguy hiểm: bệnh tật, lão suy, vô thường phá hỏng nhan sắc, tử vong là nguy hiểm của sắc pháp.

– Chế ngự lòng dục đối với sắc pháp là sự xuất ly khỏi sắc pháp.

Về cảm thọ (nội thọ)

– Vị ngọt: với vị ngọt của sắc pháp và của lòng dục là vị ngọt của ngoại thọ. Bản kinh 13 chỉ đề cập đến nội thọ. Vị ngọt của nội thọ là sự cảm thọ vô hại, an nhiên, an lạc của các cảnh giới định của Sắc giới.

– Sự nguy hiểm: nội thọ là do duyên mà sinh; nó là vô thường, thay đổi, biến hoại. Đây là mối nguy hiểm của nó.

– Sự xuất ly: chế ngự, đoạn trừ dục tham đối với nội thọ là sự xuất ly khỏi nó.

Khả năng tuệ tri về dục, sắc và cảm thọ, và tuệ tri con đường đoạn trừ dục tham đối với chúng không thể tìm thấy ở ngoại đạo, mà chỉ tìm thấy ở con đường tu tập của Thế Tôn, và các đệ tử của Ngài.

Đức Phật
checked
1. Bản kinh số 11 đã nêu: Ngoại đạo do vì không liễu tri sự thật Duyên sinh, Vô ngã của các hiện hữu nên không thể liễu tri, không thể hiển thị được sự liễu tri về “Ngã luận thủ”. Vì vậy, bản kinh 13 này giới thiệu ngoại đạo không thể liễu tri về các dục, về các sắc, về các cảm thọ. Đây là điểm gốc của sự khác biệt giữa Phật giáo và ngoại đạo bàn về Dục, sắc và cảm thọ.
Các tỳ kheo
checked
 Thế Tôn sống giữa giòng họ Sakka (Thích-ca), trong thành Kapilavatthu (Ca-tỳ-la-vệ) tại vườn Nigrodha (Ni-câu-luật Viên)
 
  1. Cư sĩ Mahànàma, dòng Thích Ca, sống hưởng thụ dục lạc củađời sống gia đình, muốn chế ngự tham, sân, si, nhưng thường thất bại – bị tham, sân, si chế ngự tâm – mong biết lý do tại sao?

Đức Thế Tôn dạy: do vì hưởng thụ dục lạc thế gian nên dục vọng tăng trưởng, tham, sân, si được nuôi dưỡng và tồn tại. Muốn thoát khỏi sự trói buộc của lòng dục vọng, cần phải thấy rõ với trí tuệ rằng: dục vui ít, khổ nhiều, đầy nguy hiểm.

Thấy rõ như vậy thì tâm sẽ ly dục, ly tham ái và sẽ có được hỷ lạc do ly dục sanh.

Đức Phật
checked
  1. Ngoạiđạo phái Ni Kiền Tử (Nigantha) thì dùng biện pháp hành khổ thân khốc liệt để tiêu trừ ác nghiệp gây ra quả khổ, đồng thời ngưng tạo nghiệp ác mới trong hiện tại.

Ni Kiền Tử quan niệm rằng hạnh phúc không thể đem lại hạnh phúc; chỉ có hành khổ (khổ đau) mới đem lại hạnh phúc. Đây là tà kiến nặng!

Đức Phật soi sáng tà kiến ấy bằng cách nêu rõ hạnh phúc tối thắng mà Đức Phật đang có là do thực hiện Giới-Định-Tuệ: chỉ có việc thực hiện Giới-Định-Tuệ mới có thể dập tắt nghiệp và khổ.

Vua Shakya Mahànàma , Ngoại đạo phái Ni Kiền Tử (Nigantha)
checked
Bài kinh số 015 :  Kinh Tư Lượng (Anumāna sutta)
Tôn giả Mahamoggallana (Ðại Mục-kiền-liên) sống giữa những người thuộc dòng họ Bhagga, tại núi Sumsumaragira, rừng Bhesakala, vườn Lộc Uyển
 
  1. Tôn giả Mục Kiền Liên (Moggallàna) đề cập hai điểm giáo giới với các vị Tỷ kheo ở vườn Nai:
  2. a) Có hai hạng Tỷ kheo: một hạng thì khó nói, khó trao đổi, góp ý; hạng kia thì dễ nói, dễ trao đổi, góp ý.

– Hạng khó nói là hạng đang vướng mắc vào các ác, bất thiện tâm như: ác dục, khen mình chê người, phẫn nộ, hiềm hận, cố chấp, phát ngôn do phẫn nộ, chỉ trích người góp ý, chất vấn, tránh né vấn đề, hư ngụy và não hại, tật đố và xan tham, lừa đảo và lường gạt, ngoan cố và quá mạn, chấp trước thế tục, khó hành xả. Với hạng này, các đồng phạm hạnh không muốn trao đổi, không muốn góp ý, không đặt lòng tin.

– Hạng dễ nói là hạng không có các điểm tâm lý kể trên. Các đồng phạm hạnh đặt lòng tin, muốn góp ý, muốn trao đổi.

  1. b)Biết vậy, mỗi Tỷ kheo nên tự xét mình để tu tập, kiểm soát tâm để trở thành Tỷ kheo dễ nói.
Tôn giả Mahamoggallana 
checked
2. Tỷ kheo nên tự quán sát tâm mình có hay không có mặt “Ngũ cái”, nỗ lực đoạn trừ; chúng vốn là suối nguồn của các ác bất thiện tâm, các tâm cấu uế.
Các tỳ kheo
checked
Thế Tôn ở Savatthi (Xá-vệ), tại Jetavana (Kỳ-đà Lâm)
 
  1. Trong bản kinh 16 này, Đức Thế Tôn dạy về hai loại tâm gây chướng ngại cho công phu tu tập Tứ thần túc, và trở ngại sự phát triển tâm và tuệ giải thoát. Hai loại tâm ấy là:
  2. a)Năm thứ tâm hoang vu(thuộc Nghi triền cái): Nghi ngờ Bậc Đạo Sư; nghi ngờ về Pháp; nghi ngờ Tăng; nghi ngờ học pháp; tâm chống đối, không hoan hỷ với các đồng phạm hạnh.
  3. b)Năm thứ tâm triền phược(thuộc dục triền cái):

– Tham ái, dục cầu về các dục;
– Tham ái, dục cầu về tự thân;
– Tham ái, dục cầu về các sắc;
– Tham ái, dục cầu về ăn uống;
– Tham ái, dục cầu về sàng tọa, ngủ nghỉ.

Với ai đoạn tận được năm tâm hoang vu và năm tâm triền phược, nếu nỗ lực thực hiện dục định, tinh tấn định, tâm định, tư duy định thì có khả năng để chứng đắc vô thượng an ổn thoát ly mọi khổ ách, được Chánh giác.

Đức Phật
checked
1. Người bị vướng vào 5 tâm hoang vu là do không có Chánh kiến và Chánh tư duy về các hiện hữu và về “con đường thoát khổ”. Khi Chánh kiến có mặt thì các tâm Nghi ra đi, sẽ tin tưởng vào Phật, Pháp, Tăng và học pháp, sẽ không còn phẫn nộ với các đồng phạm hạnh. Nói khác đi, với tuệ tri, hành giả sẽ tẩy sạch ngay năm tâm hoang vu.
Các tỳ kheo
checked
Thế Tôn ở Savatthi (Xá-vệ), tại Jetavana (Kỳ-đà Lâm)
 

Để có ngoại duyên hỗ trợ thuận duyên cho công phu giải thoát, hành giả cần có quyết định đúng đắn về trú xứ và người thân cận, đồng hành.

  1. Về trú xứ:Cần chọn lựa dứt khoát hai trú xứ này:
  2. a) Ở khu rừng mà tâm không thể định tĩnh, lậu hoặc không thể loại trừ, dù ở đó có các thức ăn, y phục, sàng tọa, y dược tốt, thì hành giả phải từ bỏ khu rừng ấy, đi đến một trú xứ khác thích hợp. Tương tự, đối với trú xứ là làng mạc, thị trấn hay quốc gia.
  3. b) Ở tại khu rừng nào hay làng mạc, thị trấn, quốc gia nào mà hành giả phát triển tốt phạm hạnh, dù ở đó khó kiếm thức ăn, y phục, sàng tọa, y dược, thì hành giả cần có quyết tâm ở lại khu rừng đó.
  4. Về con người gần gũi:
  5. a) Ở cạnh người nào mà sự phát triển công phu thiền định, phạm hạnh được tốt đẹp, thuận duyên, dù ở đó các khó khăn về thức ăn, y phục, sàng tọa, y dược, hành giả nên quyết định ở lại bên cạnh người ấy.
  6. b) Ở cạnh người nào mà không phát triển được tâm định tĩnh, không đoạn trừ được lậu hoặc, dù ở đó dễ kiếm thức ăn, y phục, sàng tọa, y dược, thì hành giả cần từ bỏ ra đi ngay không cần từ tạ.
Đức Phật
checked
1. Pháp môn tu, hay con đường, là yếu tố quyết định sự thành tựu của công phu tu tập phạm hạnh. Bên cạnh đó, trú xứ tu hành cũng lạ một trợ duyên quan trọng mà các kinh thuộc Phật giáo Phát triển gọi là: “thân cận xứ”, “bất thân cận xứ”. Nơi sống có môi sinh tốt, khí hậu tốt, thiên nhiên hòa điệu, không gây ra các thứ bệnh, không mất an ninh, không có giặc giã, không gần gũi các sinh hoạt thế tục như lầu xanh, trại binh, chỗ quyền quý v.v… đó là trú xứ thích hợp cho sự tu tập phát triển Giới, Định, Tuệ.
Các tỳ kheo
checked
Thế Tôn sống giữa các vị dòng họ Sakka (Thích-ca), tại Kapilavatthu (Ca-tỳ-la-vệ), ở vườn Nigrodharama.
 
  1. Kẻ du hành dòng họ Thích Ca tại vườn Đại Lâm, Kapilavatthu, tìm hiểu quan điểm, chủ thuyết của Đức Thế Tôn, hỏi rằng: “Sa môn Gotama có quan điểm thế nào, giảng thuyết những gì?”. Câu hỏi hàm nghĩa đợi chờ câu trả lời về triết lý nhân sinh và vũ trụ. Nhưng Sakka, kẻ du hành, lại nghe Đức Thế Tôn dạy: “… Không có tranh luận với một ai ở đời; các tưởng sẽ không ám ảnh, vị Bà la môn sống không bị dục triền phược, không có nghi ngờ, do dự, với mọi hối quá đoạn diệt, không có tham ái đối với Hữu và Phi hữu”.

Sakka thất vọng, lắc đầu, bỏ đi do không nắm được nghĩa lý của lời dạy.

Tiếp đó, Đức Thế Tôn đã cắt nghĩa cho các Tỷ kheo rằng: “Do bất cứ duyên gì, một số hý luận ám ảnh một người. Nếu ở đây không có gì đáng tùy hỷ, đáng đón mừng, đáng chấp thủ, thì như vậy là đoạn tận tham tùy miên, đoạn tận sân tùy miên, đoạn tận kiến tùy miên, đoạn tận nghi tùy miên, đoạn tận mạn tùy miên, đoạn tận hữu tham tùy miên, đoạn tận vô minh tùy miên, sự đoạn tận chấp trượng, chấp kiếm, đấu tranh, tránh tranh, luận tranh, kháng tranh, ly gián ngữ, vọng ngữ. Chính ở đây, những ác, bất thiện pháp này đều được tiêu diệt, không còn dư tàn”.

Lời cắt nghĩa này vẫn còn hàm ẩn một số nội dung chưa khai tỏ, vẫn còn vắn tắt.

  1. a) Tôn giả Đại Ca Chiên Diên (Mahàkaccàna) diễn rộng lời dạy vắn tắt trên như sau:

“Do nhân con mắt và các sắc pháp, nhãn thức khởi lên. Sự gặp gỡ của ba pháp này là xúc. Do duyên xúc nên có cảm thọ. Những gì có cảm thọ thì có tưởng, những gì có tưởng thì có suy tầm, những gì có suy tầm thì có hý luận. Do hý luận làm nhân, một số hý luận vọng tưởng ám ảnh một người, đối với các sắc pháp do con mắt nhận thức trong quá khứ, tương lai và hiện tại. (Tương tự, với tai, mũi, lưỡi, thân và ý).

Lời giảng rộng này đã được Thế Tôn tán thán.

  1. b) Tôn giả Ànanda, đang hầu quạt Đức Thế Tôn, rất hân hoan nghe từng lời diễn rộng. Tôn giả, bậc đa văn đệ nhất, tán thán lời giảng rộng của Tôn giả Ca Chiên Diên là những lời Pháp ngọt ngào như bánh mật. Do vậy, Đức Thế Tôn đặt tên kinh số 18 là“Pháp Môn Bánh Mật (Mật Hoàn)”.
Đức Phật , Tôn giả Mahakaccana
checked
Hoàn cảnh
Ke du hành Sakka , các tỳ kheo
checked
Thế Tôn ở Savatthi (Xá-vệ), tại Jetavana (Kỳ-đà Lâm),
 

 Tầm, hay tư tưởng, tư duy, là hoạt động của tâm, sinh khởi ngay khi các căn tiếp xúc các trần. Các tưởng ấy được chia làm hai loại:

  1. a) Loại thứ nhất là dục tầm, dục tưởng, sân tầm và hại tầm đưa đến các hành động của thân và khẩu hại mình, hại người, gây nên phiền não tiêu diệt trí tuệ.
  2. b) Loại thứ hai là ly dục tầm, vô sân tầm, vô hại tầm không đưa đến hại mình, không đưa đến hại người, không gây ra phiền não, tăng trưởng trí tuệ hướng đến Niết bàn.

Hành giả an trú vào loại tưởng thứ hai thì loại tưởng thứ nhất sẽ tiêu biến. Quán sát sự nguy hiểm của loại tầm thứ nhất, thì loại tầm ấy cũng tiêu biến.

Đức Phật
checked
Hoàn cảnh
Các tỳ kheo
checked
 Thế Tôn trú ở Savatthi (Xá-vệ), tại Jetavana (Kỳ-đà Lâm)
 

Kinh Song Tầm và An Trú Tầm có nội dung tuơng tự, nhưng được triển khai dưới hai hình thức khác nhau dành cho hai hạng căn cơ khác nhau:

1.1 Kinh Song Tầm thuật lại kinh nghiệm loại bỏ dục tầm, sân tầm và hại tầm của Đức Thế Tôn, khi còn là Bồ tát. Do vì tâm của Bồ tát thuần thiện nên chỉ cần tác ý đến mối nguy hiểm của bất thiện tầm thì bất thiện tầm liền tiêu mất. Hoặc giả, Bồ tát chỉ tác ý đến thiện tầm thì bất thiện tầm cũng tiêu biến.

1.2 Hầu hết các căn cơ ở đời có tập khí bất thiện tầm để lại từ quá khứ, và tập quán bất thiện tầm đến từ ảnh hưởng của văn hóa xã hội đương thời quá mạnh nên sự tác ý đến mối nguy hiểm của bất thiện tầm, hoặc sự tác ý đến thiện tầm, không đủ sức mạnh giác tỉnh để tiêu diệt các bất thiện tầm ấy. Do đó, trong kinh An Trú Tầm, Đức Thế Tôn chỉ dạy thêm các phương cách đối trị.

Đức Phật
checked
Phật dạy năm phương pháp để đối trị những bất thiện tầm có thể khởi lên trong khi thiền định.
Các tỳ kheo
checked
Thế Tôn ở Savatthi (Xá-vệ), tại Jetavana (Kỳ-đà Lâm)
 
(P. Kakacūpamasuttaṃ, H. 鋸喻經) tương
đương Mâu-lê-phá-quần-na kinh.²⁵ Đức Phật dạy rằng trong giao tế và ứng xử, dù trong tình huống nào, hành giả phải chế ngự khẩu nghiệp,vượt qua trạng thái bị xúc phạm, chuyển hóa lòng sân, phát ngôn bằng lời từ bi và tha thứ, không để tâm sân cưa nát mình
Đức Phật
checked
Bài kinh về sự cần thiết phải kham nhẫn khi bị nói những lời khó chịu.
 Tôn giả Moliya Phagguna  , các tỳ kheo
checked
Thế Tôn ở Savatthi (Xá-vệ), tại Jetavana (Kỳ-đà Lâm)
 
(P. Alagaddūpamasuttaṃ, H. 蛇喻經) tương đương A-lê-tra kinh.²⁶ Thông qua bài kinh này, đức Phật xác quyết rằng quan điểm sai lầm cho rằng hưởng thụ tính dục không làm chướng ngại Thánh đạo có thể trở thành động cơ làm người xuất gia sống thế tục hóa. Bằng các ảnh dụ sinh động, đức Phật đã phân tích bản chất của Chánh pháp chỉ là phương tiện đưa người sang sông. Hiểu được điều này, hành
giả chú tâm vào hành trì hơn là học pháp để thỏa mãn tri thức Phật học. Nhờ hành trì Chánh pháp, hành giả giải phóng được các quan niệm chấp ngã.
Đức Phật
checked
Một tỳ kheo tên Arittha khởi lên tà kiến cho rằng hành vi mà Phật cấm thực sự không phải là chướng ngại (cho giải thoát). Phật quở trách ông, và nói nhiều với nhiều ví dụ đáng nhớ, Ngài nhấn mạnh những nguy hiểm của việc áp dụng sai và giải thích Pháp một cách sai lạc. Cao điểm kinh này là một trong những thiên trường luận khởi sắc nhất về vô ngã được thấy trong Kinh tạng.
Tỷ-kheo tên là Arittha( xưa làm nghề huấn luyện chim ưng), các tỳ kheo
checked
Bài kinh số 023 :  Kinh Gò Mối (Vammika sutta)
 Thế Tôn ở Savatthi, tại Jetavana
 
(P. Vammikasuttaṃ, H. 蟻垤經). Tham chiếu: Nghịdụ  kinh.²⁷ Với các ẩn dụ, đức Phật sánh ví thân 4 đại như gò mối ban đêm phun khói (nghĩa là những gì ban ngày làm, ban đêm quán chiếu lại), ban ngày chiếu sáng (nghĩa là những gì ban đêm quán chiếu, ban ngày thực
hành trên thân, miệng, ý); trí tuệ như thanh gươm; tinh tấn như sự đào lên; vô minh như then cửa; phẫn nộ như con nhái; dục tham, sân, hôn trầm thụy miên, trạo cử, nghi hoặc như đồ lọc sữa; 5 thủ uẩn như conrùa; 5 dục như con dao phay; hỷ tham như cục thịt; người dứt  lậu hoặc như con rắn hổ
Đức Phật
checked
Một vị trời đặt cho một tỳ kheo một câu đố bí hiểm, được Phật giải thích.
Tôn giả Kumara Kassapa , và 1 vị thiên
checked
Thế Tôn ở Rajagaha (Vương Xá) tại Veluvana (Trúc Lâm), Kalandakanivapa
 
(P. Rathavinītasuttaṃ, H. 傳車經) tương đương Thất xa kinh.²⁸ Bài kinh giới thiệu cuộc đối thoại giữa tướng quân Chánh pháp Tôn giả Sāriputta, và nhà hoằng pháp vĩ đại Tôn giả Puṇṇa Mantāṇiputta (Phú-lâu-na Mãn-từ-tử), về ý nghĩa của “bước đi và đích  đến” hay “phương tiện và cứu cánh.” Niết-bàn là cứu cánh của tu tập, chỉ đạt được khi các bước phương tiện tu tập được thành tựu; tuy nhiên, dừng lại ở phương tiện của các pháp môn thì vĩnh viễn không đạt được cứu cánh.
Đức Phật
checked
Tôn giả Phú lâu na giải thích cho Xá lợi phất biết rằng niết bàn, mục tiêu của đời sống phạm hạnh, được đạt đến là nhờ bảy giai đoạn thanh tịnh.
Tôn giả Sariputta , Tôn giả Punna Mantaniputta ( vua Pasenadi được nhắc đến)
checked
Thế Tôn ở Savatthi, tại Jetavana, vườn ông Anathapindika
 
(P. Nivāpasuttaṃ, H. 撒餌經) tương đương Lạp sư kinh.²⁹ Với ẩn dụ con nai, đức Phật mô tả con người sở dĩ bị khổ đau làdo bị vướng dín h vào các cái bẫy thế gian, đó là dính bẫy do hưởng thụ, dính bẫy do gặp nghịch cảnh mà không đủ sức vượt qua và dính bẫy do lòng tham lam. Để sống vô ngại, thong dong giữa đời, người tu tập cầnđề cao chánh niệm, tỉnh thức, tu 4 thiền định để không bị vướng chấp
bất kỳ điều gì trên đời.
Đức Phật
checked
Phật dùng ví dụ những thợ bẫy nai để hiển thị cho tỳ kheo những chướng ngại họ gặp phải trong khi nỗ lực thoát khỏi sự khống chế của ma vương.
Các tỳ kheo
checked
Thế Tôn trú tại Savatthi (Xá-vệ), Jetavana (Kỳ-đà Lâm)
 
(P. Ariyapariyesanāsuttaṃ, H. 聖求經) tương đương La-ma kinh.³⁰ Đức Phật đã kể lại kinh nghiệm tìm cầu con đường tâm linh của bản thân và con đường chuyển hóa của Ngài trong 2 tháng đầu sau khi thành đạo. Thông qua đó, Ngài xác định con đường Thánh hóa bắt đầu bằng việc xả ly những gì thuộc về thế gian, thực tập các pháp thuộc tâm linh, để chuyển hóa bản thân và cuộc đời.
Đức Phật ( 2 vị Alara Kalama và Uddaka Ramaputta , và Phạm thiên Sahampati được nhắc đến)
checked
Phật kể cho chúng tỳ kheo về sự tầm cầu giác ngộ trong đời Ngài, từ khi còn ở trong cung điện cho đến khi truyền Pháp cho năm đệ tử đầu tiên.
Tôn giả Ananda , các tỳ kheo 
checked
Thế Tôn ở Savatthi (Xá-vệ) tại Jetavana (Kỳ-đà Lâm)
 
(P. Cňḷahatthipadopamasuttaṃ, H.象跡喻小經) tương đương Tượng tích dụ kinh.³¹ Thông qua việc phân tích các dấu hiệu xác định đâu là vết tích của con voi lớn, bài kinh khuyên chúng ta không nên đánh giá sự thành công của đức Phật thông qua việc giáo hóa Sát-đế-lỵ, Bà-la-môn và gia chủ. Dấu ấn của bậc Giác Ngộ, bản chất giáo pháp của Ngài và đặc điểm Tăng đoàn, chỉ có thể được xác quyết thông qua kinh nghiệm tu tập và chứng nghiệm của bản thân.
Đức Phật
checked
Phật lấy hình ảnh người thợ rừng theo dấu một con voi lớn để giải thích làm cách nào đệ tử đạt đến sự xác tín hoàn toàn đối với chân lý Ngài dạy.
Bà-la-môn Janussoni , Du sĩ Pilotika ( Tôn giả Vacchàyana)
checked
Thế Tôn trú ở Savatthi (Xá-vệ), tại Jetavana (Kỳ-đà Lâm)
 
(P. Mahāhatthipadopamasuttaṃ, H.象跡喻大經) tương đương Tượng tích dụ kinh.³² Khởi đầu bằng cách xác định bốn Thánh đế là trái tim Phật pháp, Tôn giả Sāriputta đã phân tích cách buông xả thái độ chấp trước 5 nhóm nhân thể bằng cách quán chiếu, dẫn đến chuyển hóa thái độ chấp trước 4 đại thuộc sắc uẩn, trên nền tảng tính tương thuộc
Tôn giả Sariputta 
checked
Tôn giả Xá lợi phất khởi đầu bằng tuyên bố về Bốn chân lý, rồi giảng giải bốn chân lý qua pháp quán bốn đại chủng và lý duyên khởi về năm uẩn
Các tỳ kheo
 
Thế Tôn ở tại Rajagaha (Vương Xá), núi Gijjhakuta (Linh Thứu)
 
(P. Mahāsāropamasuttaṃ, H. 心材喻大經).³³ Trên con đường tìm cầu tâm linh, người xuất gia chân chính sẽ lần lượt đạt được các thành tựu. Nếu không biết cách chuyển hóa tâm lý hãnh diện, các thành tựu này nhanh chóng trở thành các cản lực, làm cho hành giả rơi vào phóng dật. Mục tiêu đời sống Phạm hạnh chính là chuyển hóa tâm lý hãnh diện trong những bước đi vừa thành tựu
Đức Phật ( Devadatta được nhắc đến)
checked
Cả hai kinh này nhấn mạnh rằng mục đích chính của đời sống phạm hạnh là tâm giải thoát bất động, đối với mục đích này thì tất cả những lợi lạc khác chỉ là cặn bã.
Các tỳ kheo
checked
Thế Tôn trú tại Savatthi (Xá-vệ), Jetavana (Kỳ-đà Lâm)
 
(P. Cūḷasāropamasuttaṃ, H. 心材喻小經).³⁴ Trước sự kiện 6 đạo sĩ cùng thời đức Phật tự xưng là người đạt Nhất thiết trí, đức Phật giảng ẩn dụ “lõi cây”. Người tu cần đạt giá trị lõi cây, xuất gia với chánh tín và lý tưởng thoát khỏi sinh tử, có tinh thần phụng sự nhân sinh, không bị bệnh tự mãn, không khen mình chê người, thành tựu giới hạnh thanh cao, vượt lên trên danh vọng, lợi dưỡng, chứng đạt
được 4 thiền, trí tuệ thù thắng, thành tựu hạnh Thánh.
Đức Phật
checked
Cả hai kinh này nhấn mạnh rằng mục đích chính của đời sống phạm hạnh là tâm giải thoát bất động, đối với mục đích này thì tất cả những lợi lạc khác chỉ là cặn bã.
Bà-la-môn Pingalakoccha (Purana Kassapa, Makkhali Gosala, Ajita Kesakambali, Pakudha Kaccayana, Sanjaya Belatthiputta, Nigantha Nataputta được nhắc đến)
checked
 Thế Tôn ở Nadika, tại Ginjakavasatha
 
 (P. ḷagosiṅgasuttaṃ, H. 牛角林小經) tương đương Ngưu giác Sa-la lâm kinh.35 Từ gương hạnh sống hòa hợp như nước với sữa của 3 Tôn giả, Anuruddha, Nandiya và Kimbila, đứcPhật xác định giá trị của đời sống hòa hợp, tương thân, tương ái, giúp đỡ nhau
trong sinh hoạt và Phật sự, sẽ mang lại hạnh phúc và an vui cho số đông.
Đức Phật
checked
Phật gặp ba tỳ kheo sống chung hòa hợp “như nước với sữa” và hỏi họ làm cách nào họ sống được hòa hợp như vậy.
Tôn giả Anuruddha (A-na-luật-đà), Tôn giả Nandiya, Tôn giả Kimbila  , Dạ xoa  Digha Parajana
checked
Thế Tôn ở tại khu vườn trong rừng Gosinga có nhiều cây ta-la
 
 (P. Mahāgosiṅgasuttaṃ, H. 牛角林大經) tương đương Ngưu giác Sa-la lâm kinh.36 Bài kinh ghi lại kinh nghiệm
chia sẻ pháp môn hành trì của một số Tôn giả lớn thời Phật, liên hệ đến tiêu chí về hành giả chói sáng và pháp môn chói sáng nhất. Thông qua đó, đức Phật khẳng định, hành giả nhổ sạch gốc rễ các lậu hoặc mới xứng danh là người tu lý tưởng nhất. Pháp môn chói sáng nhất là pháp môn có khả năng chuyển hóa toàn bộ lậu hoặc, giúp cho người phàm chứng đắc Thánh quả.
Đức Phật
checked
Vào một đêm trăng sáng, một số cao đệ của Phật tụ họp trong rừng cây sa la thảo luận về hạng tỳ kheo nào có thể làm chói sáng khu rừng. Sau khi mỗi người đã trả lời theo lý tưởng riêng mình, họ cùng đi đến Phật. Ngài đưa ra câu trả lời của chính Ngài.
 Tôn giả Sariputta (Xá-lợi-phất) Tôn giả Maha Moggallana (Ðại Mục-kiền-liên), Tôn giả Maha Kassapa (Ðại Ca-diếp), Tôn giả Anuruddha (A-na-luật-đà), Tôn giả Revata (Ly-bà-đa), Tôn giả Ananda (A-nan) cùng với một số Thượng Tọa đệ tử nổi tiếng khác.
checked
Thế Tôn ở tại Savatthi (Xá-vệ), Jetavana (Kỳ-đà Lâm),
 
 (P. Mahāgopālakasuttaṃ, H. 牧牛者大經).37 Nhân sự kiện mô tả các yêu cầu của một người chăn bò thành công, đức Phật giới thiệu các đức hạnh cần thiết để giúp người tu chân chính được trưởng thành trong Phật pháp, gặt hái hạnh phúc và an vui, trở thành Đạo sư khai sáng cho đời.
Đức Phật
checked
Phật dạy 11 tính chất khiến tỳ kheo không lớn mạnh trong Pháp và 11 tính chất đưa đến sự tăng tiến Pháp.
Các tỳ kheo
checked
Thế Tôn ở giữa các bộ lạc Vajji (Bạt-kỳ) tại Ukkacela, trên bờ sông Hằng
 
 (P. Cūḷagopālakasuttaṃ, H. 牧牛者小經).38 Nhân dịp mổ xẻ 2 tình huống chăn dắt đàn bò đúng phương pháp và sai phương pháp, đức Phật phân tích 2 nghệ thuật tu tập có hiệu quả của người huấn luyện tinh thần, thực hành theo Chánh pháp (tùy pháp hành) và thực hành theo chánh tín (tùy tín hành) nhằm đạt được sự chấm dứt 5 trói buộc thấp (gồm thân kiến, hoài nghi, giới cấm thủ, dục ái và sân) và 5 trói buộc cao (sắc ái, vô sắc ái, ngã mạn, trạo cử và vô minh).
Đức Phật
checked
Phật giải thích các hạng tỳ kheo “vượt qua được sông ma” để vượt qua bờ kia một cách an ổn.
Các tỳ kheo
checked
Thế Tôn ở tại Vesali, rừng Ðại Lâm
 
 (P. ḷasaccakasuttaṃ, H. 薩遮迦小經).39 Với thái độ cao ngạo, khoe khoang, lõa thể Saccaka cho rằng có thể đánh bại đức Phật trong cuộc tranh luận thách đố. Đức Phật bằng thuật vấn đáp đã phân tích cho ông ta thấy rằng bản ngã là đầu mối của khổ đau. Với cái nhìn vô ngã, các nỗi khổ niềm đau không còn chỗ bám víu vào thân thể, cảm xúc, tri giác, tâm tư và nhận thức.
Đức Phật
checked
Saccaka, người giỏi biện luận thuộc phái khổ hạnh Ni kiền tử khoe khoang rằng ông ta có thể tranh biện với Phật làm Ngài phải run lên, vần quanh Ngài. Nhưng cuối cùng khi ông gặp Phật, cuộc đàm luận đã có những chuyển biến bất ngờ.
Tôn giả Assaji, Niganthaputta Saccaka  (  Aggivessana) , Dummukha ( một người con Licchavi)
checked
Tôn ở tại Vesali, rừng Ðại Lâm, tại giảng đường Trùng Các
 
 (P. Mahāsaccakasuttaṃ, H. 薩遮迦大經).40 Sau khi quan sát các vị lõa thể, Saccaka cho rằng người tu thân sẽ đau khổ về thân và điên loạn tâm. Người tu tâm mà không tu thân cũng bị tương tự. Ông cho rằng đệ tử Phật thuộc nhóm hai. Nhân đó, đức Phật giải thích cách tu tập thân và tu tập tâm nhằm chuyển hóa khổ đau, đạt được giác ngộ trong đời.
Đức Phật ( 2 vị Alara Kalama và Uddaka Ramaputta được nhắc đến)
checked
Phật lại gặp Saccaka và trong một cuộc thảo luận về thân tu tập và tâm tu tập, Ngài thuật lại chi tiết về cuộc tầm đạo của chính mình.
 Niganthaputta Saccaka (  Aggivessana ) , Các tỳ kheo
checked
Thế Tôn ở tại Savatthi (Xá-vệ), Ðông Viên (Pubbarama), giảng đường Lộc Mẫu (Migaramatu)
 
 (P. Cūḷataṇhāsaṅkhayasuttaṃ, H. 愛盡小經).41 Nhân dịp tình cờ nghe pháp thoại ngắn do đức Phật giảng cho Thiên chủ Sakka về cách chuyển hóa tính dục, vượt mọi khổ ách trong đời, Ngài Mahāmoggallāna giúp Thiên chủ Sakka nhận thức được rằng hạnh phúc ở
cõi bụi hồng là tạm bợ, chứa đầy sợ hãi, từ đó, nên hướng đến hạnh phúc cao hơn của người xuất gia, vượt qua tính dục, trải nghiệm Niết-bàn an vui. 
Đức Phật
checked
Tôn giả Mục kiền liên nghe lỏm một bài kinh ngắn Phật giảng cho Đế thích thiên chủ, làm thế nào một tỳ kheo giải thoát nhờ diệt ái. Vì muốn biết Thiên chủ có hiểu được ý nghĩa lời dạy ấy không, tôn giả Mục Liên lên đến cõi trời 33 để tìm hiểu.
Thiên chủ Sakka ( Kosiya ),  Tôn giả Maha Moggallana
checked
Thế Tôn ở Savatthi (Xá-vệ) tại Jetavana (Kỳ-đà Lâm)
 
 (P. Mahātaṇhāsaṅkhayasuttaṃ, H. 愛盡大經) tương đương Trà-đế kinh.42 Từ quan điểm sai lầm cho rằng thức luân chuyển qua các cõi luân hồi, không hề đổi khác, đức Phật đã phân tích về thuyết duyên khởi, giải thích về tính điều kiện, theo đó, nỗ lực chặt đứt tiến trình mắc xích khổ đau, đạt được sự giải thoát
Đức Phật
checked
Một tỳ kheo tên Sati tuyên bố tà kiến cho rằng cũng một tâm thức ấy lưu chuyển đời này sang đời khác. Phật quở trách ông với một bài thuyết giảng dài về lý duyên sinh, chỉ rõ tất cả pháp hiện hữu [hiện tượng] đều sinh và diệt do những điều kiện.
Tỷ-kheo tên là Sati (con của người đánh cá) , các tỳ kheo
checked
Thế Tôn ở giữa dân chúng Anga (Ương- già), tại một xã ấp của dân chúng Anga, tên là Assapura (xóm Ngựa).
 
 (P. Mahāassapurasuttaṃ, H. 馬邑大經) tương đương Mã ấp kinh.43 Nhân dịp có mặt tại ấp Assapura của dân Aṅga (Ương-già) vốn xa lạ với Phật giáo, đức Phật phân tích bản chất và phẩm hạnh của người xuất gia và những phương pháp vượt qua tâm lý tự mãn với các thành quả tu tập.
Đức Phật
checked
Phật kể ra những “pháp làm nên một sa môn ẩn sĩ” với một bài giảng bao quát nhiều phương diện tu tập của một tỳ kheo.
Các tỳ kheo
checked
 Thế Tôn ở giữa dân chúng Anga (Ương già), tại một xã ấp của dân chúng Anga, tên là Assapura (xóm Ngựa).
 
 (P. Cūḷaassapurasuttaṃ, H. 馬邑小經) tương đương Mã ấp kinh.44 Tại ấp Assapura của dân chúng Aṅga, đức Phật dạy về nghệ thuật chánh danh và chánh hạnh của người xuất gia, để mang lại giá trị hạnh phúc trong tu tập và độ sanh. Chánh hạnh này không thể được đồng hóa đơn thuần với chủ nghĩa hình thức của người tu cũng như các phương pháp thực tập khổ hạnh ép xác sai lầm.
Đức Phật
checked
Phật giải thích “con đường chân chính của sa môn” để ám chỉ không những chỉ có khổ hạnh bề ngoài, mà còn sự tịnh hóa những ô nhiễm nội tâm.
Các tỳ kheo
checked
Bài kinh số 041 :  Kinh Sàleyyaka (Sāleyyaka sutta)
 Thế Tôn đang du hành trong nước Kosala (Kiều tất la) cùng với Ðại chúng Tỷ-kheo đi đến một làng Bà-la-môn của dân chúng Kosala tên là Sala
 
 (P. Sāleyyakasuttaṃ, H. 薩羅村婆羅門經).45 Nhân dịp các cư sĩ tại gia và đạo sĩ Bà-la-môn tại Kosala thăm hỏi đức Phật, Ngài giải thích về nhân quả, nghiệp báo và con đường đưa đến tái sanh ở các cảnh giới thấp và cảnh giới cao. Từ bỏ sát hại, trộm cắp, tà dâm, không nói vọng ngữ, lời bất hòa, lời thô ác, lời thị phi; không tham lam, không giận dữ, không si mê là cách sống hạnh phúc
Đức Phật
checked
Trong hai kinh gần giống nhau này, Phật giảng cho các nhóm gia chủ Bà la môn về các nghiệp đạo đưa đến tái sinh ở các cõi thấp, và các nghiệp đạo đưa đến tái sinh cao cấp và đưa đến giải thoát.
Các gia chủ Bà-la-môn ở Sala
checked
Bài kinh số 042 :  Kinh Veranjaka (Veranjaka sutta)
Thế Tôn ở Savatthi (Xá-vệ), tại Jetavana (Kỳ-đà Lâm)
 
 (P. Verañjakasuttaṃ, H. 鞞蘭若村婆羅門經).46 Nội dung bài kinh giống với kinh 41, chỉ khác nhau về đối tượng là các gia chủ Bà-la-môn ở Verañjā và địa điểm giảng kinh là tại Jetavana (Kỳ-đà Lâm), tinh xá ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc).
Đức Phật
checked
Trong hai kinh gần giống nhau này, Phật giảng cho các nhóm gia chủ Bà la môn về các nghiệp đạo đưa đến tái sinh ở các cõi thấp, và các nghiệp đạo đưa đến tái sinh cao cấp và đưa đến giải thoát.
 các gia chủ Bà-la-môn Veranjaka 
checked
Thế Tôn ở Savatthi, tại Jetavana, tịnh xá ông Anathapindika
 
 (P. Mahāvedallasuttaṃ, H. 有明大經) tương đương Đại Câu-hy-la kinh.47 Tại tinh xá ông Anāthapiṇḍika, Jetavana, Sāvatthi, Tôn giả Sāriputta (vị Trí tuệ đệ nhất) và Tôn giả Mahākoṭṭhita (vị Phân tích lý luận đệ nhất), luận đàm về các pháp vi tế: Liệt tuệ và trí tuệ; sự khác nhau giữa tuệ tri và thức tri; thọ hành và quan hệ giữa thức, tưởng, thọ; 5 căn và ý thức biệt lập của chúng; các duyên cho chánh tri kiến; có bao nhiêu hữu; chết và tái sinh; 4 thiền; 4 tâm giải thoát
 Tôn giả Maha Kotthita (Ðại Câu-hy-la),
checked
Hai kinh này mang hình thức đàm luận những điểm tế nhị về Pháp. Kinh trước là giữa hai tôn giả Câu thi la và Xá lợi phất, kinh sau giữa tỳ kheo ni Dhammadinnà và cư sĩ Visàkha.
Tôn giả Sariputta
checked
 Thế Tôn ở Rajagaha (Vương Xá), tại Veluvana (Trúc Lâm), chỗ Kalandaka Nivapa
 
 (P. Cūḷavedallasuttaṃ, H. 有明小經) tương đương Pháp Lạc Tỳ-kheo-ni kinh.48 Tại Kalandakanivāpa, Veḷuvana, Rājagaha, Ni sư Dhammadinnā (Vị Thuyết pháp đệ nhất trong Ni đoàn) đã giải thích cho cư sĩ Visākha (trước đây là chồng của Ni sư) về các quan
điểm: Tự thân, thủ và uẩn, thân kiến, 8 Thánh đạo và 3 uẩn, định, định tướng, định tư cụ và định tu tập, 3 hành, nhập và xuất Diệt thọ tưởng định, 3 thọ, minh và vô minh, giải thoát và Niết-bàn
Tỷ-kheo ni Dhammadinna
checked
Hai kinh này mang hình thức đàm luận những điểm tế nhị về Pháp. Kinh trước là giữa hai tôn giả Câu thi la và Xá lợi phất, kinh sau giữa tỳ kheo ni Dhammadinnà và cư sĩ Visàkha.
Nam cư sĩ Visakha 
checked
Thế Tôn ở Savatthi, tại Jetavana
 
 (P. Cūḷadhammasamādānasuttaṃ, H. 得 法小經) tương đương Thọ pháp kinh.49 Kinh này kêu gọi mọi người trở thành loại thứ 4 trong 4 lối sống tạo ra hạnh phúc và khổ đau: (i) Hiện tại hạnh phúc, tương lai khổ; (ii) Hiện tại khổ, tương lai cũng khổ; (iii) Hiện tại khổ, tương lai hạnh phúc; (iv) Hiện tại hạnh phúc, tương lai hạnh phúc. Đó là người hạnh phúc ở hiện tại nhờ nỗ lực vượt qua tham ái, sân hận, si mê, tu 4 cấp thiền định, đạt được trí tuệ và tiếp tục hạnh phúc ở kiếp sau
Đức Phật
checked
Phật giải thích trong hai kinh này, bốn cách thọ lãnh các pháp, khác nhau ở chỗ hiện tại chúng là lạc hay khổ và trong tương lai, chúng kết thành quả báo vui hay khổ.
Các tỳ kheo
checked
Thế Tôn ở Savatthi, Jetavana, tại tịnh xá Ông Anathapindika (Cấp Cô Ðộc)
 
 (P. Mahādhammasamādānasuttaṃ, H. 得法大經) tương đương Thọ pháp kinh.50 Chi tiết hơn kinh 45, trong 4 lốisống: (i) Hiện tại khổ, tương lai khổ; (ii) Hiện tại khổ, tương lai hạnh phúc; (iii) Hiện tại hạnh phúc, tương lai khổ; (iv) Hiện tại hạnh phúc, tương lai hạnh phúc. Đức Phật khích lệ lối sống “hạnh phúc hiện tại vàtương lai” bằng cách từ bỏ các hành động xấu ác: Giết hại, trộm cắp, tà
hạnh trong các dục, nói láo, nói chia rẽ, nói thô ác, nói phù phiếm, tham lam, giận dữ, tà kiến. Đồng thời, tu thiền định, phát triển trí tuệ, nhờ đó,người đó trở nên hữu ích và giá trị trong đời 
Đức Phật
checked
Phật giải thích trong hai kinh này, bốn cách thọ lãnh các pháp, khác nhau ở chỗ hiện tại chúng là lạc hay khổ và trong tương lai, chúng kết thành quả báo vui hay khổ.
Các tỳ kheo
 
Bài kinh số 047 :  Kinh Tư Sát (Vīmamsaka sutta)
Thế Tôn ở Savatthi, tại Jetavana
 
 (P. Vīmaṃsakasuttaṃ, H. 思察經) tương đương Cầu giải kinh.51 Bằng cách quan sát, có thể nhận biết tập tánh (cetopariyāyaṃ) của bậc Chân nhân, Thánh nhân như sau: (i) Không bị ô nhiễm do thấy, nghe trong thời gian dài; (ii) Không bị thoái chuyển khi đã nổi tiếng;
(iii) Với tâm không sợ hãi, từ bỏ những điều xấu ác; (iv) Vượt qua tham ái; (v) Có đạo đức và trí tuệ. Phật tử tại gia nên nương tựa các bậc Chân nhân để tu học Phật pháp
Đức Phật
checked
Phật khuyên các tỳ kheo nên làm một cuộc tra tầm toàn diện về bản thân Ngài để tìm hiểu xem Ngài có đáng được chấp nhận là hoàn toàn giác ngộ hay không.
Các tỳ kheo
checked
Bài kinh số 048 :  Kinh Kosambiya (Kosambiya sutta)
Thế Tôn ở Kosambi, tại tịnh xá Ghosita.
 
 (P. Kosambiyasuttaṃ, H. 憍賞彌經).52 Để vượt qua các bất hạnh do lối sống bất hòa, tranh chấp, hơn thua, đức Phật hướng dẫn 6 kỹ năng từ bi và tương kính, tương ái đối với bạn đồng Phạm hạnh, cộng sự, trước mặt và sau lưng: (i) Thân hành từ bi; (ii) Khẩu hành
từ bi; (iii) Ý hành từ bi; (iv) Chia sẻ phẩm vật cúng dường; (v) Giữ giới hạnh thanh tịnh, không tỳ vết; (vi) Có chánh tri kiến. Đức Phật phân
tích lợi ích của chánh tri kiến có khả năng hướng thượng, kết thúc khổ đau, chứng đắc Thánh quả.
Đức Phật
checked
Trong thời gian chư tỳ kheo ở Câu diệm bì chia rẽ vì một cuộc tranh cãi, Phật giảng dạy cho họ sáu đức tính tạo nên tình thương yêu và tương kính, đưa đến hòa hợp. Rồi Ngài giải thích bảy thắng trí mà một vị thánh đệ tử có được khi chứng quả Dự lưu.
 các Tỷ-kheo ở Kosambi 
checked
Thế Tôn ở Savatthi, tại Jetavana
 
 (P.Brahmanimantanikasutta, H.梵天請經) tương đương Phạm thiên thỉnh Phật kinh.53 Cuộc đối thoại thú vị giữa đức Phật, Thiên chủ Baka và Ác ma. Ác ma cho rằng Baka là đấng Sáng thế. Baka biểu diễn thần thông, cho rằng cõi trời của Ông là thiên đường vĩnh hằng. Đức Phật lần lượt phân tích các sai lầm của Baka và Ác ma. Đức Phật hướng dẫn mọi người thực tập Chánh pháp, chuyển
hóa phiền não, vượt qua khổ đau.
Đức Phật ( Phạm thiên Baka  và Ác ma được nhắc đến)
checked
Vị trời Baka cõi Phạm thiên, có tà kiến rằng cõi trời mà ông làm chủ là trường cửu, không có cõi nào cao hơn. Phật viếng thăm ông ta để giải trừ tà kiến ấy nơi ông, và đưa ông vào một cuộc tranh tài có tầm cỡ thế vận hội.
Các tỳ kheo
 
 Tôn giả Maha Moggallana trú giữa dân chúng Bhagga, tại Sumsumaragira, rừng Bhessakalavana, vườn Lộc Uyển.
 
 (P. Māratajjanīyasuttaṃ, H. 魔訶責經) tương đương Hàng ma kinh.54 Tôn giả Mahāmoggallāna điều phục Ác ma đang quấy nhiễu Ngài bằng cách kể cho Ác ma nghe câu chuyện tương tự xảy ra ở kiếp quá khứ đối với Tôn giả Vidhura và Tôn giả Sañjīva, đệ tử của đức Phật Kakusandha (Câu-lưu-tôn). Thực tập tâm từ bi, không chấp lỗi và tha thứ, 2 vị Tôn giả đã thoát khỏi ma nghiệp. Do nghiệp ác, Ác ma
vẫn bị đọa lạc. 
Tôn giả Maha Moggallana 
checked
Ác ma cố quấy nhiễu tôn giả Mục kiền liên, Ngài bèn thuật lại một câu chuyện từ quá khứ lâu xa để cảnh cáo cho Ác ma biết những nguy hiểm xảy đến khi quấy rối một đệ tử của Phật.
Ác ma
checked

Tìm hiểu Kinh tạng Nikaya – Tâm học là cuốn sách Online giới thiệu về bộ kinh Nikaya , các bản dịch và chú giải được Tâm Học soạn từ các nguồn đáng tín cậy trên mạng internet.

Tuy nhiên đây vẫn là sách chỉ có giá trị tham khảo , mang tính chủ quan của tác giả  Tâm học.

Hits: 53