Kinh Trung Bộ Nikaya- P3

Kinh Trung Bộ Nikaya- P3

Phần I  –  Phần II  –  Phần III

Bài kinh số 101 :  Kinh Devadaha (Devadaha sutta)
Thế Tôn trú ở giữa các Sakka (Thích ca). Devadaha là một thị trấn các Sakka.
 
 (P. Devadahasuttaṃ, H. 天臂經) tương đương
Ni-kiền kinh.98
Đức Phật ( các Nigantha được nhắc đến)
checked
Phật xem xét chủ trương của Kỳ na giáo cho cần khổ hạnh mới đạt giải thoát, và đề nghị một giải thích khác, làm thế nào để tinh cần đem lại kết quả
Các tỳ kheo
checked
Thế Tôn trú ở Sāvatthī, Jetavana (Kỳ-đà-lâm), tại tu viện ông Anāthapiṇḍika.
 
 (P. Pañcattayasuttaṃ, H. 五三經).99 Đức Phật
dạy không nên quy kết tất cả những gì gặp phải ở hiện tại đều có gốc rễ
quá khứ, đồng thời khích lệ tu tập tinh tấn thay vì khổ hạnh, để nhổ lên
sự khổ đau bằng việc phân tích nguyên nhân của nó và trải nghiệm hạnh
phúc bây giờ và tại đây
Đức Phật
checked
Xét qua các kiến chấp siêu hình về vị lai quá khứ và những quan niệm sai lạc về Niết bàn
Các tỳ kheo
checked
Thế Tôn trú ở Kusinara, tại khu rừng Baliharana
 
 (P. Kintisuttaṃ, H. 如何經). Đề cao vai trò
của vị Đạo sư, đức Phật khuyên các Tăng sĩ siêng năng truyền bá 37 yếu
tố giác ngộ. Để sống hạnh phúc trong cộng đồng, đức Phật khuyên không
nên đào sâu sự bất đồng về quan điểm, cách hiểu, không phê phán, không
khen mình, chê người; đề cao sự thực hành Chánh pháp để trải nghiệm
hạnh phúc của Niết-bàn.
Đức Phật
checked
Phật dạy các tỷ kheo cách giải quyết những bất đồng về Pháp
Các tỳ kheo
checked
Bài kinh số 104 :  Kinh Làng Sama (Sāmagāma sutta)
 Thế Tôn trú ở giữa các vị Sakka (Thích Ca), tại Samagama (Xá-di thôn).
 
 (P. Sāmagāmasuttaṃ, H. 舍彌村經) tương đương Châu-na kinh.100 Khẳng định tranh chấp là khổ đau, đức Phật dạy
phân tích các nguyên nhân của tranh chấp gồm phẫn nộ – sân hận, hiềm
hận – não hại, tật đố – xan tham, gian manh – xảo trá, ác dục – tà kiến, cố
chấp – khó thuyết phục. Đồng thời, đức Phật dạy 6 kỹ năng sống hòa hợp
và 7 phương pháp vượt qua tranh chấp, bất đồng, nhằm góp phần xây
dựng gia đình, cộng đồng và quốc gia hạnh phúc 
Đức Phật ( sự kiện Nigantha Nataputta  vừa mới từ trần)
checked
Phật ấn định những điều luật để chỉ đạo cho tăng chúng sống hòa hợp sau khi Ngài niết bàn.]
Tôn giả Ananda , Sa-di Cunda 
checked
Thế Tôn trú tại Vesali (Tỳ-xá-ly), ở Ðại Lâm, tại Trùng Các giảng đường (Kutagarasala).
 
 (P. Sunakkhattasuttaṃ, H. 善星經). Đức Phật
dạy rằng lời tuyên bố chứng đắc trí tuệ, có trường hợp là đúng với sự thật
và có khi là do ngã mạn nên nói khống. Theo đức Phật, để đạt được thắng
trí, mọi người cần tu tập tâm bất động trước các cảnh, không chấp vào
tính sở hữu, không để tham dục và sân hận chi phối, không ỷ lại chính
mình, cam kết chữa lành mũi tên khổ đau bằng sự thực tập buông xả và
không hận thù.
Đức Phật
checked
Phật bàn thảo vấn đề cá nhân đánh giá quá mức sự tiến bộ của mình về thiền.
Sunakkhatta Licchaviputta (Thiện Tinh Ly-xa Tử) 
checked
Thế Tôn trú giữa dân chúng Kuru (Câu-lâu). Kammassadhamma (Kiềm-ma-sắt-đàm) là thị trấn của dân chúng Kuru
 
 (P. Āneñjasappāyasuttaṃ, H. 不動利益
) tương đương Tịnh bất động đạo kinh.101 Khẳng định rằng tham dục,
về bản chất là vô thường, trống rỗng, kéo theo hệ lụy, đức Phật hướng
dẫn kỹ năng sống bất động trước cảnh trong hiện tại như sau: (i) Tâm
quảng đại; (ii) Không chấp dính thế giới vật chất nhờ thấy rõ tính tổ hợp
4 đại của chúng; (iii) Thường quán tưởng Vô sở hữu xứ; (iv) Thực tập
tâm Vô sở hữu xứ; (v) Thực tập buông xả và không chấp vào xả.
Đức Phật
checked
Phật bàn thảo vấn đề cá nhân đánh giá quá mức sự tiến bộ của mình về thiền.
Tôn giả Ananda, các tỳ kheo
checked
Thế Tôn trú ở Savatthi, Pubbarama, nơi lâu đài của Migaramatu (Ðông Viên Lộc Mẫu Giảng đường)
 
 (P. Gaṇakamoggallānasuttaṃ, H.
數家目犍連經
) tương đương Toán số Mục-kiền-liên kinh.102 Con đường
tâm linh kết thúc khổ đau, chứng đắc Niết-bàn bắt đầu bằng sự huấn
luyện đạo đức, sống chánh hạnh, giữ oai nghi, sợ hãi các lỗi nhỏ, làm chủ
6 giác quan, làm chủ việc ăn uống, chánh niệm và tỉnh thức trong mọi
động tác, thực tập thiền định để tháo mở các trói buộc tâm gồm tham ái,
sân hận, hôn trầm thùy miên, hối quá và hoài nghi. Ai thực hành theo sự
chỉ đường của đức Phật sẽ đạt được giải thoát trong hiện đời
Đức Phật
checked
Phật đề ra trình tự huấn luyện một tỷ kheo và tự cho mình là người chỉ đường.
 Bà-la-môn Ganaka Moggallana
checked
 Tôn giả Ananda trú ở Rajagaha (Vương Xá) tại Veluvana (Trúc Lâm), chỗ nuôi dưỡng các con sóc, khi Thế Tôn thị tịch không bao lâu.
 
 (P. Gopakamoggallānasuttaṃ, H. 默目犍連經) tương đương Cù-mặc Mục-kiền-liên kinh.103 Noi gương
đức Phật, người khai sáng con đường tỉnh thức, sau khi đức Phật qua đời,
người tu Phật phải nương tựa vào chân lý Phật và đạo đức, sống trong
chánh hạnh, hòa thuận, giữ đủ oai nghi, thấy sự nguy hiểm trong các lỗi
nhỏ nhặt; học rộng, hiểu Phật pháp nhiều; biết đủ với 4 vật dụng; thực
tập thiền định; xem giáo hóa như phép mầu; nỗ lực kết thúc khổ đau,
chứng đắc giác ngộ.
 
Tôn giả Ananda
checked
Tôn giả A nan giải thích làm sao tăng chúng duy trì được sự thống nhất và kỷ luật nội bộ sau khi Phật qua đời.
Bà-la-môn Gopaka Moggallana  , Bà-la-môn Vassakara, vị đại thần nước Magadha ( Vua Ajatasattu  được nhắc đến)
checked
 Thế Tôn ở tại Savatthi (Xá-vệ), Pubbarama (Ðông Viên), Migaramatupasada (Lộc Mẫu Giảng đường).
 
 (P. Mahāpuṇṇamasuttaṃ, H. 滿月大
).104 Phân tích mắc xích khổ đau, đức Phật chỉ rõ sự dính mắc của thân
thể, cảm giác, tri giác, tâm tư, nhận thức bắt đầu từ dục tham, tiếp xúc
thiếu chánh niệm; đánh đồng thân và tâm là ngã. Ngài nhắc nhở người
tu cần thấy rõ vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly khỏi các đối tượng
giác quan, đồng thời hãy chuyển hóa tâm ngã mạn ngủ ngầm; thấy rõ vô
thường để không chấp: “Cái này của tôi, cái này là tôi, cái này chính là tự
ngã của tôi”, nhờ đó, vượt qua tất cả khổ đau.
Đức Phật
checked
Một tỷ kheo thỉnh vấn Phật về năm uẩn, về chấp thủ, thân kiến và sự chứng ngộ vô ngã.]
Các tỳ kheo
checked
Thế Tôn trú ở Savatthi, tại Pubbarama (Ðông Viên), Migaramatupasada (Lộc Mẫu Giảng đường).
 
 (P. Cūḷapuṇṇamasuttaṃ, H. 滿月小
).105 Nhận diện tác hại của sự bất chánh, đức Phật dạy kỹ năng trở
thành người chân chánh, sống với chánh kiến, giao du người tốt; suy
nghĩ việc thiện, nói sự thật và hữu ích, hành động chân chánh; có chánh
tín, đề cao lương tâm, nghe chân lý Phật, tinh tấn làm việc thiện, tin sâu
nhân quả và kiếp sau, thích bố thí giúp người; làm tất cả việc tốt nhất với
phương pháp tốt nhất có thể, trở thành người hạnh phúc và hữu dụng.
Đức Phật
checked
Phật giảng sự khác biệt giữa một người bất chính và một người chân chính.
Các tỳ kheo
checked
Bài kinh số 111 :  Kinh Bất Đoạn (Anupada sutta)
 Thế Tôn trú ở Savatthi (Xá-vệ), tại Jetavana (Kỳ-đà-lâm), tinh xá ông Anathapindika (Cấp Cô Ðộc). 
 
 (P. Anupadasuttaṃ, H. 不斷經). Nhân dịp ca
ngợi Tôn giả Sāriputta đạt được đại tuệ và tu thiền sâu sắc, đức Phật dạy
các cấp thiền: (i) Hỷ lạc do xa lìa ái dục; (ii) Hỷ lạc do trụ định; (iii) An
lạc do xả niệm hỷ; (iv) Thanh tịnh do xả tất cả niệm. Đồng thời, Phật
khuyên tu tập 4 thiền vô sắc giới: (v) Hư không vô biên xứ; (vi) Thức
vô biên xứ; (vii) Vô sở hữu xứ; (viii) Phi tưởng phi phi tưởng xứ; và Diệt thọ
tưởng định; nhờ đó, vượt qua mọi trói buộc, đạt được giác ngộ, giải thoát
Đức Phật ( tôn giả Sariputa được nhắc đến và khen ngợi)
checked
Phật mô tả sự phát triển tuệ giác của tôn giả Xá lợi Phất lúc ngài tu để đắc quả A la hán.
Các tỳ kheo
checked
 Thế Tôn trú ở Savatthi, Jetavana, tại tinh xá ông Anathapindika.
 
 (P. Chabbisodhanasuttaṃ, H. 六淨經)
tương đương
Thuyết trí kinh.110 Bằng chánh trí, người tu sẽ giải thoát
mình khỏi các lậu hoặc, vượt qua các chấp thủ về thân thể, cảm giác, tri giác, tâm tư, nhận thức; mắt và hình thái, tai và âm thanh, mũi với mùi,
lưỡi với vị, thân với vật xúc chạm, ý với những gì được hình dung. Vượt
qua ngã mạn tùy miên, người tu trở thành bậc chân tu; chặt đứt các trói
buộc tâm (tham ái, sân hận, hôn trầm thùy miên, trạo cử hối quá, hoài
nghi) và giải quyết khổ đau bằng 4 sự thật Thánh, sống hạnh phúc và
thong dong trong đời 
Đức Phật
checked
Phật giảng cách chất vấn một tỷ kheo khi vị ấy tuyên bố đã đạt trí tối hậu; nếu đúng thật thì vị ấy phải trả lời như thế nào.
Các tỳ kheo
checked
Bài kinh số 113 :  Kinh Chân Nhân (Sappurisa sutta)
 Thế Tôn trú ở Savatthi, Jetavana, tại tịnh xá ông Anathapindika (Cấp Cô Ðộc)
 
 (P. Sappurisasuttaṃ, H. 善士經) tương đương
Chân nhân kinh.106 Bất luận bối cảnh giai cấp và họ tộc, bậc chân tu theo
Phật pháp sẽ đạt được an lạc, giải thoát và được sự kính trọng. Bậc chân
tu không khen mình, chê người về sự nổi tiếng, 4 vật cúng dường, học
pháp giỏi, giữ giới hạnh, thiểu dục và giản đơn, khất thực nuôi mạng
thanh tịnh, sống ở nghĩa địa, ngủ dưới gốc cây, hết tham sân si, chứng 9
cấp thiền định, đạt được trí tuệ, giải phóng khổ đau.
Đức Phật
checked
Phật giản biệt đặc tính của một người chân chính khác với người bất chính.
Các tỳ kheo
checked
 Thế Tôn trú ở Savatthi, Jetavana, tại tịnh xá ông Anathapindika (Cấp Cô Ðộc
 
 (P. Sevitabbaasevitabbasuttaṃ, H. 應習不應習經).107 Phật dạy tiêu chí đánh giá bản
chất hành động trên nền tảng giá trị và tác hại, từ đó, nên làm và không
nên làm. Bất cứ hành động thân, lời nói và các ý tưởng, hoặc khi các giác
quan tiếp xúc trần cảnh mà làm tăng trưởng điều bất thiện, gây tạo khổ
đau như thương tổn mạng sống, lấy của không cho, tà hạnh ngoại tình,
nói láo, nói chia rẽ, nói thô ác, nói phù phiếm, vướng dính tham ái, giận
dữ và tâm hãm hại…, con người nên nỗ lực từ bỏ, vượt qua. Ngược lại,
đối với các hành động mang lại hạnh phúc và giá trị cho đời, con người
nên theo đuổi như lý tưởng sống
Đức Phật
checked
Phật nêu vắn tắt ba toát yếu về những pháp cần đào luyện và không cần, rồi tôn giả Xá lợi Phất nói chi tiết đầy đủ.
Tôn giả Sariputa , các tỳ kheo
checked
Thế Tôn trú ở Savatthi (Xá-vệ), Jetavana (Kỳ-đà Lâm), tại tịnh xá ông Anathapindika (Cấp Cô Ðộc)
 
 (P. Bahudhātukasuttaṃ, H. 多界經) tương đương
Đa giới kinh.108 Sau khi khẳng định người trí hiểu sâu về 6 giác quan, 6
đối tượng giác quan, 6 nhận thức giác quan và thuyết tương duyên, đức
Phật chỉ ra lý do người ngu dễ bị sợ hãi, thất vọng và hoạn nạn trong khi
người trí thì không. Người trí hiểu rõ lạc, khổ, hỷ, ưu, xả, vô minh; vượt
qua dục tưởng, sân tưởng, hại tưởng; thành tựu chánh kiến, không phạm
tội lỗi, nhất là 5 tội trọng; thấy rõ vô thường và vô ngã, nhờ đó, sống an
vui trong
Đức Phật
checked
Phật giảng chi tiết về (mười tám) giới, (mười hai) xứ, duyên khởi, và những trường hợp có thể, không thể xảy ra ở đời.
Tôn giả Ananda , các tỳ kheo
checked
Bài kinh số 116 :  Kinh Thôn Tiên (Isigili sutta)
Thế Tôn trú tại Rajagaha (Vương Xá), trên núi Isigili (Thôn tiên).
 
 (P. Isigilisuttaṃ, H. 仙吞經).109 Tại núi Tiên
(Isigili), Vương Xá, đức Phật ca ngợi vị Độc Giác, nhờ tu chánh đạo, trọn
vẹn đạo đức, thiền định và trí tuệ, nên đã dứt sạch tham ái, nhổ mũi tên
khổ đau, và tự chứng trí tuệ, đạt được giải thoát, đoạn tận tái sinh
Đức Phật ( Các vị Độc Giác Phật được nhắc đến từng trú ngự ở Thôn Tiên)
checked
Kể ra tên và đặc điểm các vị Phật Độc giác trước kia đã cư trú trên núi Thôn tiên.
Các tỳ kheo
checked
 Thế Tôn ở Savatthi (Xá-vệ), Jetavana (Kỳ-đà Lâm), tại tinh xá ông Anathapindika (Cấp Cô Ðộc).
 
 (P. Mahācattārīsakasuttaṃ, H. 大四十經)
tương đương
Thánh đạo kinh.115 Đức Phật giảng chi tiết về Bát chánh đạo,
gồm (i) Tầm nhìn chân chánh; (ii) Tư duy chân chánh; (iii) Lời nói chân
chánh; (iv) Hành động chân chánh; (v) Nghề nghiệp chân chánh; (vi)
Siêng năng chân chánh; (vii) Chánh niệm hiện tiền; (viii) Đại định nhất
tâm, cũng như mối quan hệ giữa trí tuệ, đạo đức và thiền định. Tu tập Bát
chánh đạo thông thường sẽ trở thành chân nhân, hưởng phúc báo. Tu tập
rốt ráo Bát chánh đạo sẽ chứng quả Thánh nhân, kết thúc luân hồi
Đức Phật
checked
Phật định nghĩa các chi của thánh đạo tám ngành và giải thích tương quan giữa các chi phần ấy.
Các tỳ kheo
checked
Thế Tôn ở Savatthi (Xá-vệ), tại Ðông Viên (Pubbarama), giảng đường Lộc Mẫu (Migaramatupasade),
 
 (P. Ānāpānassatisuttaṃ, H.
出息念經
).110 Đức Phật dạy 16 kỹ năng thở thiền mang lại an lạc, giải
thoát, gồm: (i) Chánh niệm thân: Với hơi thở ra vào, biết rõ hơi thở dài
hơi thở ngắn, cảm giác toàn thân, và an tịnh thân hành; (ii) Chánh niệm
cảm giác: Làm chủ hoan hỷ, hạnh phúc, cảm nhận tâm hành và an tịnh
tâm hành; (iii) Chánh niệm tâm: Cảm nhận tâm, tâm hân hoan, tâm
định tĩnh, tâm giải thoát; (iv) Chánh niệm về pháp: Quán vô thường,
quán ly dục, quán tịch diệt và quán xả ly. Phối hợp với 7 yếu tố giác ngộ,
người tu thiền sẽ đạt sự giải thoát khỏi khổ đau.
  ( cùng với Tôn giả Sariputta (Xá-lợi-phất), Tôn giả Mahamoggallana (Ðại Mục-kiền-liên), Tôn giả Mahakaccayana (Ðại Ca-chiên-diên), Tôn giả Mahakotthita (Ðại Câu-hy-la), Tôn giả Mahakappina (Ðại Kiếp-tân-na), Tôn giả Mahacunda (Ðại Thuần-đà), Tôn giả Anuruddha (A-na-luật), Tôn giả Revata (Ly-bà-đa) và Tôn giả Ananda (A-nan), cùng với nhiều bậc Thượng tọa đệ tử khác có thời danh, có danh xưng.)
checked
Trình bày 16 bước trong pháp niệm hơi thở, tương quan giữa thiền pháp này với Bốn niệm xứ và Bảy giác chi.
Các tỳ kheo
checked
Thế Tôn trú ở Savatthi (Xá-vệ), Jetavana (Kỳ-đà Lâm), tại tịnh xá ông Anathapindika (Cấp Cô Ðộc)
 
 (P. Kāyagatāsatisuttaṃ, H. 身行念經)
tương đương
Niệm thân kinh.111 Đức Phật dạy kỹ năng chánh niệm về
thân (thân hành niệm), gồm làm chủ hơi thở ra vào; tỉnh giác trong khi
đi, đứng, nằm, ngồi, co, duỗi, nói, im lặng, động, tịnh, thức, ngủ; quán
thân thể gồm 32 yếu tố bất tịnh; quán thi thể bị trương sình và chỉ còn
xương, tro, bụi; nhờ đó, không còn chấp dính vào thân, ngã, ngã sở hữu
và những thứ liên hệ đến thân. Như vậy, tu và chứng 4 thiền định để
chấm dứt khổ đau.
Đức Phật
checked
Phật giải thích làm thế nào để tu tập pháp niệm thân và nói những lợi ích mà pháp tu này đem lại.
Các tỳ kheo
checked
Thế Tôn trú ở Savatthi (Xá-vệ), Jetavana (Kỳ-đà Lâm), tại tịnh xá ông Anathapindika (Cấp Cô Ðộc)
 
 (P. Saṅkhārupapattisuttaṃ, H. 行生經) tương đương Ý hành kinh.112 Đức Phật dạy điều kiện tái sinh theo ý muốn gồm
đầy đủ chánh tín, đạo đức, bố thí, đa văn, trí tuệ; chú tâm vào cảnh giới
và nơi muốn tái sinh, nhất là lúc gần qua đời. Ngoài những điều trên, nếu
chú tâm vào Tâm giải thoát và Tuệ giải thoát, người tu tập sẽ chấm dứt
khổ đau, chứng đắc quả Thánh. 
Đức Phật
checked
Phật dạy làm thế nào ta có thể tái sanh tùy theo mong ước của mình.
Các tỳ kheo
checked
Thế Tôn trú ở Savatthi (Xá-vệ), tại Pubbarama (Ðông Viên), lâu đài của Migaramatu (Lộc Mẫu). 
 
 (P. Cūḷasuññatasuttaṃ, H. 空小經) tương
đương
Tiểu không kinh.119 Bằng kinh nghiệm bản thân, đức Phật dạy
Tăng đoàn quán tính “không thực thể”, tu tập Không vô biên xứ, Thức
vô biên xứ, Vô sở hữu xứ, Phi tưởng phi phi tưởng xứ và Vô tướng tâm
định… để không vướng tâm tưởng vào con người, làng xã, nhà cửa, đại
địa, núi, sông; phối hợp với quán vô thường và vô ngã, chấm dứt các lo
lắng và khổ đau liên hệ đến tưởng; tâm được giải thoát.
Đức Phật
checked
Phật dạy A nan về sự chứng nhập Tánh Không thuần túy không bị cong quẹo.
Tôn giả Ananda
checked
Thế Tôn trú giữa các dòng họ Sakka (Thích-ca), tại Kapilavatthu (Ca-tỳ-la-vệ), ở tu viện Nigrodha (Ni-câu-luật Thọ Viên).
 
 (P. Mahāsuññatasuttaṃ, H. 空大經) tương
đương Đại không kinh.
120 Kinh dạy kỹ năng vượt qua ngã mạn, chấm dứt
sự nhiễm đắm các sự vật, hiện tượng, sống thiểu dục, đề cao tâm viễn ly,
thực tập nội tĩnh, chánh niệm, tỉnh thức, trải nghiệm các hỷ lạc do ly dục,
do tu định, do diệu lạc và do xả niệm. Để tiến bộ trong tu học, người tu
tập dù gặp nghịch cảnh, không chán nản, bỏ cuộc; dù gặp nhiều người
quý trọng, không sanh tâm cống cao; với mọi người, không có tâm thù
nghịch; đề cao lòng bi mẫn mang lại lợi lạc cho mọi người.
Đức Phật
checked
Thấy chư tỷ kheo khởi sự ưa tụ hội, Phật nhấn mạnh nhu yếu độc cư để an trú Tánh không
Tôn giả Ananda
checked
Thế Tôn trú ở Savatthi (Xá-vệ), Jetavana (Kỳ-đà-lâm), tại tịnh xá ông Anathapindika (Cấp Cô Ðộc).
 
 (P. Acchariyaabbhutadhammasuttaṃ, H. 希有未曾有法經) tương đương Vị tằng hữu pháp kinh.113
Tôn giả Ānanda thuật lại 18 điều mầu nhiệm về sự kiện Phật đản: (i) An
trú trọn thọ mạng tại cung trời Ðâu-suất một cách chánh niệm; (ii) Vào
thai mẹ trong chánh niệm; (iii) Ánh sáng thần diệu xuất hiện khi qua đời
tại cõi trời Đâu-suất; (iv) Khi vào thai mẹ, có 4 thiên nhân hộ vệ mẫu
thân; (v) Trong thai, tác động mẹ sống đức hạnh; (vi) Trong thai, mẹ
không có dục tưởng; (vii) Trong thai, mẹ hưởng 5 dục công đức đầy đủ;
(viii) Thai nhi đủ các bộ phận, mẹ không mệt mỏi; (ix) Mẹ tái sinh cõi
trời Đâu-suất sau 7 ngày sinh; (x) Trụ thai đúng 10 tháng; (xi) Mẹ sinh
trong tư thế đứng; (xii) Khi sinh được chư thiên đỡ Ngài sau đó mới đến
loài người; (xiii) Khi sinh, thân Ngài không chạm đất; (xiv) Khi sinh ra
không bị lấm bẩn máu mủ; (xv) Khi sinh ra có 2 dòng nước nóng, lạnh tắm 2 mẹ con; (xvi) Khi sinh ra, đi 7 bước hướng Bắc, tuyên bố sự độc
tôn của Ngài; (xvii) Khi sinh ra, hào quang sáng ngời các cõi; (xviii) Cảm
thọ được biết đến lúc sinh khởi, lúc trú và diệt, các ý tưởng và tư duy
cũng thế. 
Đức Phật
checked
Trong một buổi họp chúng, tôn giả A nan thuật lại những sự cố ly kỳ mầu nhiệm trước và trong ngày Phật đản sanh.]
Tôn giả Ananda
checked
Bài kinh số 124 :  Kinh Bạc-câu-la (Bakkula sutta)
Tôn giả Bakkula trú ở Rajagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm), tại chỗ nuôi dưỡng các loài sóc (kalandakanivapa).
 
 (P. Bakkulasuttaṃ, H. 薄拘羅經) tương
đương
Bạc-câu-la kinh.114 Tôn giả Bakkula (Bạc-câu-la) tự sự về 80 năm
tu hành đặc biệt của Ngài: (i) Không có dục tưởng, sân tưởng và hại
tưởng; (ii) Không nhận y phục từ cư sĩ, may y, nhận y Kathina; (iii)
Không đi Trai Tăng; (iv) Không để ý tướng chung, tướng riêng của
người nữ, không đến chỗ người nữ, không giảng pháp cho người nữ; (v)
Không làm Bổn sư và Y chỉ sư của ai; (vi) Không tắm trong nhà tắm,
không ốm đau, không dùng thuốc, không nằm giường; không đi an cư
mùa mưa tại trú xứ gần làng; (vii) Chỉ mắc nợ thí chủ trong 7 ngày mới
xuất gia. Sau đó, Ngài giác ngộ, giải thoát, nhập Niết-bàn trong tư thế
thiền tọa bất động.
Tôn giả Bakkula
checked
Tôn giả Bạc câu la kể ra những khổ hạnh của Ngài suốt 80 năm sống giữa tăng và hiển bày một cái chết đặc biệt.
lõa thể Kassapa, một người bạn trước kia của Tôn giả Bakkula khi còn là cư sĩ
checked
Thế Tôn ở Rajagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm), tại chỗ nuôi dưỡng sóc (Kalandakanivapa).
 
 (P. Dantabhūmisuttaṃ, H. 調御地經) tương
đương Điều ngự địa kinh.
115 Nhân câu chuyện Vương tử Jayasena không
tin người tu xa lìa được 5 dục lạc, đức Phật dùng ẩn dụ con voi chưa được
thuần hóa và ẩn dụ người ở đỉnh núi kể phong cảnh đó cho người dưới
chân núi để mô tả cảnh giới lìa ái dục của bậc chân tu, giải phóng khổ
đau. Đức Phật khuyến khích các đệ tử sống đạo đức, phòng hộ 6 giác
quan, tiết độ ăn uống, chú tâm cảnh giác, vượt khỏi chướng ngại, chánh
niệm trong các uy nghi, dứt 5 trói buộc tâm, tu 4 niệm xứ, chứng đắc 4
thiền, đạt được giác ngộ.
Đức Phật
checked
Phật giảng cách huấn luyện đệ tử với ẩn dụ luyện voi.
 Sa-di Aciravata (Tân Học Sa-môn Aggivessana)  , vương tử Jayasena 
checked
Bài kinh số 126 :  Kinh Phù-di (Bhūmija sutta)
 Thế Tôn trú ở Rajagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm), tại chỗ nuôi dưỡng sóc.
 
 (P. Bhūmijasuttaṃ, H. 浮彌經) tương đương Phù-
di kinh
.116 Đề cập đến giá trị trị liệu và thiết thực của Phật giáo, đức Phật
giải thích kết quả của việc thực tập Bát chánh đạo trong hiện đời là hạnh
phúc, giác ngộ và giải thoát, bất luận có ước nguyện hay không. Theo
phương pháp đúng, cũng như ép hạt lấy dầu, vắt sữa từ vú bò cái, khuấy
sữa làm bơ, và dùng cây khô để nhóm lửa, người thực tập chắc chắn được
như ước nguyện.
Đức Phật
checked
Phật đưa ra một loạt ví dụ để hiển thị hiệu quả tự nhiên của đạo Bát chánh.
Tôn giả Bhumija (Phù-di)  ,  vương tử Jayasena
checked
Bài kinh số 127 :  Kinh A-na-luật (Anuruddha sutta)
 Thế Tôn trú ở Savatthi (Xá vệ), tại Jetavana (Kỳ-đà viên), chỗ tinh xá của ông Anathapindika (Cấp cô độc)
 
 (P. Anuruddhasuttaṃ, H. 阿那律經) tương đương Hữu Thắng Thiên kinh.117 Tôn giả Anuruddha (A-na-luật) giải
thích 2 sự giải thoát. Cùng tu tập từ, bi, hỷ, xả, nếu “tâm giải thoát đại
hành” chỉ biến mãn một khu vực, khi chết hành giả sẽ tái sinh vào cõi
trời Thiểu Quang, còn “tâm giải thoát vô lượng” biến mãn khắp mười
phương, không hận sân, khi chết hành giả sẽ tái sinh vào cõi trời Vô
Lượng Quang, Thiểu Tịnh, Vô Lượng Tịnh. 
Tôn giả Anuruddha
checked
Phật đưa ra một loạt ví dụ để hiển thị hiệu quả tự nhiên của đạo Bát chánh.
Tôn giả Abhiya Kaccana, thợ mộc Pancakanga
checked
Thế Tôn ở Kosambi (Kiều-thưởng-di), tại tịnh xá Ghosita (Cu-sư-la).
 
 (P. Upakkilesasuttaṃ, H. 隨煩惱經) tương
đương
Trường Thọ Vương bổn khởi kinh.118 Nhằm giúp mọi người vượt
qua nghiệp tranh chấp, đức Phật dạy cách đề cao chánh niệm để phòng
phi, không xem mình là nạn nhân của khổ đau, dùng từ bi chuyển hóa
hận thù, kết bạn với người trí; sống hòa hợp như nước với sữa, ứng xử
bằng tâm từ ái, thiện cảm, quan tâm, tương trợ; tôn trọng và học hỏi sở
trường của người khác; thực tập thiền quán để vượt qua các phiền não.
Đức Phật
checked
Phật đưa ra một loạt ví dụ để hiển thị hiệu quả tự nhiên của đạo Bát chánh.
các Tỷ-kheo ở Kosambi , Tôn giả Anuruddha , các Anuruddha ,Tôn giả Nandiya,Tôn giả Kimbila ,Tôn giả Bhagu 
checked
Thế Tôn ở Savatthi (Xá-vệ), Jetavana (Kỳ-đà viên), tại tịnh xá ông Anathapindika (Cấp Cô Ðộc).
 
 (P. Bālapaṇḍitasuttaṃ, H. 賢愚經) tương
đương
Si tuệ địa kinh.119 Phật dạy kỹ năng phân biệt kẻ ngu và người trí.
Đặc điểm của người trí là nghĩ lành, nói lành, làm lành; vui với sự từ bỏ
các ác hành; tự xét mình không làm ác và không bị trừng trị; được an ổn
và không sợ hãi; khi chết, tái sinh cõi trời, hưởng thiên lạc hơn vua chúa;
khi tái sinh làm người thì sinh trong gia đình quyền quý, giàu có, sống
hữu ích và hạnh phúc
Đức Phật
checked
Những thống khổ của cõi địa ngục và súc sinh mà do ác nghiệp, kẻ ngu tái sinh vào, và những thiên lạc mà người trí gặt hái do thiện hành.
Các tỳ kheo
checked
Bài kinh số 130 :  Kinh Thiên Sứ (Devadūta sutta)
Thế Tôn ở Savatthi (Xá-vệ), Jetavana (Kỳ-đà viên), tại tinh xá ông Anathapindika (Cấp Cô Ðộc).
 
 (P. Devadūtasuttaṃ, H. 天使經) tương đương
Thiên sứ kinh.120 Luật nhân quả chi phối mọi thứ ở kiếp này và quyết định
sự tái sinh kiếp sau với các cảnh giới, làm người hay vật, hưởng hạnh phúc
hay chịu khổ đau. Kẻ gây ác nghiệp sẽ bị trừng phạt bởi luật pháp và luật
nhân quả. Quán chiếu tiến trình sự sống bắt đầu từ ấu nhi, thanh xuân,
già, bệnh, chết như các thiên sứ nhắc nhở về vô thường để bản thân sống
tốt hơn, tu học Phật pháp, chuyển hóa khổ đau
Đức Phật
checked
Phật mô tả những nổi khổ ở địa ngục đang chờ đợi kẻ làm ác sau khi chết.
Các tỳ kheo
checked
Thế Tôn ở Savatthi (Xá-vệ), Jetavana (Kỳ-đà lâm)
 
 (P. Bhaddekarattasuttaṃ, H. 一夜賢者 ). Tại tinh xá Kỳ Viên, đức Phật dạy rằng cốt lõi của tu thiền là thực
tập chánh niệm trong giây phút hiện tại và tại đây. Không hồi ức, sống
với kinh nghiệm quá khứ đối với 5 thủ uẩn, 6 giác quan, 6 đối tượng giác
quan. Không ước vọng, lo lắng, căng thẳng, sợ hãi về những chuyện chưa
xảy ra đối với các đối tượng nêu trên. Không bị vọng niệm hiện tại lôi
cuốn vào sự chấp tự ngã. An trụ tâm vào hiện tại tỉnh thức, vượt qua mọi
khổ đau trên đời.
 
Đức Phật
checked
Cả bốn kinh này đều xoay quanh một bài kệ Phật thuyết, nhấn mạnh nhu yếu nỗ lực ngay trong hiện tại để phát triển tuệ quán đi sâu vào các pháp hiện tại như chúng đang là.
Các tỳ kheo
checked
 Thế Tôn ở Savatthi (Xá-vệ), Jetavana (Kỳ-đà lâm), tại tinh xá ông Anathapindika (Cấp Cô Ðộc).
 
 (P. Ānandabhaddekarattasuttaṃ,
H.
阿難一夜賢者經) tương đương A-nan thuyết kinh.121 Phật giảng
kinh này tại tinh xá Kỳ Viên với nội dung tương tự kinh 131, đề cao vai
trò chánh niệm hiện tiền trong việc giải phóng khổ đau.
Đức Phật
checked
Cả bốn kinh này đều xoay quanh một bài kệ Phật thuyết, nhấn mạnh nhu yếu nỗ lực ngay trong hiện tại để phát triển tuệ quán đi sâu vào các pháp hiện tại như chúng đang là.
Tôn giả Ananda
checked
Thế Tôn trú ở Rajagaha (Vương Xá), tại Tinh xá Tapoda.
 
 (P. Mahākaccānabhaddekarattasuttaṃ, H. 大迦旃延一夜賢者經) tương đương
Ôn tuyền lâm thiên kinh.
122 Kinh này được Ngài Mahākaccāna giảng tại
thành Vương Xá rằng chánh niệm hiện tiền là hạnh phúc dài lâu.
Đức Phật
checked
Cả bốn kinh này đều xoay quanh một bài kệ Phật thuyết, nhấn mạnh nhu yếu nỗ lực ngay trong hiện tại để phát triển tuệ quán đi sâu vào các pháp hiện tại như chúng đang là.
Tôn giả Samiddhi, 1 vị thiên, Tôn giả Ca Chiên Diên, các tỳ kheo
checked
Thế Tôn trú ở Savatthi (Xá-vệ), Jetavana (Kỳ-đà Lâm), tại tinh xá ông Anathapindika (Cấp Cô Ðộc).
 
 (P. Lomasakaṅgiyabhaddekarattasuttaṃ, H. 盧夷強耆一夜賢者經) tương đương Thích
trung thiền thất tôn kinh
.123 Tôn giả Lomasakagiya trả lời thiên tử Candana về chánh niệm hiện tiền theo cách được đức Phật dạy trong các bài
kinh 131, 132, 133.
Đức Phật
checked
Cả bốn kinh này đều xoay quanh một bài kệ Phật thuyết, nhấn mạnh nhu yếu nỗ lực ngay trong hiện tại để phát triển tuệ quán đi sâu vào các pháp hiện tại như chúng đang là.
 Tôn giả Lomasakangiya ,Thiên tử Candana
checked
Thế Tôn ở Savatthi (Xá-vệ) Jetavana (Kỳ-đà-lâm), tại tinh xá ông Anathapindika (Cấp Cô Ðộc).
 
 (P. Cūḷakammavibhaṅgasuttaṃ, H.
小業分別經) tương đương Anh Vũ kinh.124 Giải thích nguyên nhân thế
giới có thiên sai vạn biệt. Đức Phật khẳng định rằng con người là chủ
nhân, thai tạng, quyến thuộc, điểm tựa và người kế thừa nghiệp. Theo
đó, nhan sắc, sức khỏe, tuổi thọ, tài sản, vị thế, quyền uy, lối sống của con
người là do hành vi và thói quen của con người. Ngài khuyến khích con
người nỗ lực chuyển nghiệp bằng cách gieo trồng nghiệp mới tích cực thì
các nghiệp xấu ác trong quá khứ sẽ trở nên vô hiệu quả.
Đức Phật
checked
Phật giải thích nghiệp là nhân của may mắn và bất hạnh nơi hữu tình.
thanh niên Subha Todeyyaputta
checked
Thế Tôn ở Rajagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm), tại chỗ nuôi dưỡng sóc.
 
 (P. Mahākammavibhaṅgasuttaṃ, H.
大業分別經) tương đương Phân biệt đại nghiệp kinh.125 Đức Phật dạy
rằng tùy theo bản chất tích cực hay tiêu cực của nghiệp mà cảm giác hạnh
phúc hay khổ đau có mặt. Do tác động của duyên, sự trổ quả của nghiệp
là có thật. Người sống tà kiến, gieo nhiều bất hạnh sẽ bị khổ đau ở hiện tại
hoặc bị đọa lạc cảnh giới thấp trong kiếp tương lai. Có người gieo nghiệp
xấu ở hiện tại nhưng do tác động của nghiệp tốt trong quá khứ của bản
thân nên chậm trổ quả. Nhân quả là có thật nhưng chuyển nghiệp được
nên không có số phận và định mệnh.
Đức Phật
checked
Phật hiển thị những điều vi tế trong vận hành của nghiệp, làm đảo lộn những lập thuyết ngây ngô và quy nạp bừa bãi.
Tôn giả Ananda , du sĩ ngoại đạo Potaliputta , Tôn giả Samiddhi
checked
 Thế Tôn ở Savatthi (Xá-vệ), Jetavana (Kỳ-đà Lâm)
 
 (P. Saḷāyatanavibhaṅgasuttaṃ, H. 六處
分別經
) tương đương Phân biệt lục xứ kinh.126 Phật giảng về 6 giác quan,
6 đối tượng, 6 xúc, 6 thức, 18 ý hành (6 khổ, 6 ưu, 6 xả), 36 loại hữu tình
(18 ý hành tại gia, 18 ý hành xuất gia), 3 cảm thọ, 3 niệm của Đạo sư và
Vô thượng điều ngự. Phật khích lệ tu 8 giải thoát: Nội có sắc quán ngoại
sắc, nội không sắc quán ngoại sắc, chú tâm trên thanh tịnh, Hư không vô
biên xứ, Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ, Phi tưởng phi phi tưởng xứ và
Diệt thọ tưởng định.
Đức Phật
checked
Phật giảng giải sáu nội ngoại xứ và các đề tài liên hệ.
Các tỳ kheo
checked
Thế Tôn ở Savatthi (Xá-vệ), Jetavana (Kỳ-đà Lâm)
 
 (P. Uddesavibhaṅgasuttaṃ,
H.
總說分別經) tương đương Phân biệt quán pháp kinh.127 Tôn giả
Mahākaccāna giải thích lời Phật dạy về cách vượt qua sự dao động tâm,
không chấp dính, không còn khổ về sanh, già, chết. Khi giác quan tiếp
xúc ngoại trần cảnh, không đuổi theo tướng ngoài. Tu tập 4 thiền định
để không vướng dính nội trần. Không chấp ngã, tự ngã, ngã sở hữu trong
thân thể và sắc pháp, nhờ đó, không còn khát ái, không sợ hãi, không bị
khủng bố, đạt được an lạc và giải thoát
Đức Phật , Tôn giả Maha Ca Chiên Diên
checked
Tôn giả Ðại ca chiên diên triển khai một lời dạy vắn tắt của Phật về sự tu luyện tâm thức để thắng lướt trạo cử giao động.
Các tỳ kheo
checked
 Thế Tôn trú ở Savatthi (Xá-vệ), Jetavana (Kỳ-đà Lâm)
 
 (P. Araṇavibhaṅgasuttaṃ, H. 無諍分
別經
) tương đương Câu-lâu-sấu vô tránh kinh.128 Để giúp mọi người vượt
qua khổ đau do nghiệp và thói quen tranh chấp, đức Phật dạy kỹ năng tán
dương mặt tích cực của người khác, góp ý khéo và đúng lúc, chú tâm vào sự an lạc của thanh tịnh và giác ngộ, giao tiếp bằng lời từ ái, không chấp
dính ngôn ngữ và hành xử của người khác, thực tập hỷ xả và bao dung 
Đức Phật
checked
Phật giảng chi tiết về những điều đưa đến tranh cãi và những điều làm lắng dịu tranh chấp.
Các tỳ kheo
checked
Thế Tôn du hành ở xứ Magadha (Ma- kiệt-đà), đi đến Rajagaha (Vương xá), đến nhà thợ gốm Bhaggava
 
 (P. Dhātuvibhaṅgasuttaṃ, H. 界分別經)
tương đương
Phân biệt lục giới kinh.129 Để vượt qua mọi chấp thủ, đức
Phật khuyên mọi người phát triển 4 siêu việt gồm tôn trọng chân lý, phát
triển trí tuệ, chia sẻ tuệ giác và trải nghiệm sự tịch tịnh; nhận thức rõ địa,
thủy, hỏa, phong, không vốn không phải là tôi, của tôi và tự ngã của tôi;
chuyển hóa cảm xúc, vọng tưởng, tham ái, sân hận, vô minh và vượt qua
mọi chấp thủ, đạt được giác ngộ và giải thoát.
Đức Phật
checked
Khi dừng nghỉ đêm tại xưởng một người thợ gốm, Phật gặp một tỷ kheo tên Pukkusati và giảng cho vị ấy một pháp thoại sâu sắc về các yếu tố đưa đến tột đỉnh là bốn nền tảng của A la hán quả.
 thợ gốm Bhaggava , Tôn giả Pukkusati , các tỳ kheo khác
checked
 Thế Tôn ở Baranasi (Ba la nại), Isipatana (chỗ chư Tiên đọa), tại Migadaya (Lộc Uyển).
 
 (P. Saccavibhaṅgasuttaṃ, H. 諦分
別經
) tương đương Phân biệt Thánh đế kinh.130 Phương pháp chấm dứt
khổ đau của đức Phật gồm 4 bước: (i) Nhận diện khổ đau của thân và
tâm; (ii) Truy tìm nguyên nhân khổ đau từ tham ái, sân hận và si mê; (iii)
Trải nghiệm Niết-bàn khi khổ và nguyên nhân khổ đã kết thúc; (iv) Tu
Bát chánh đạo gồm sự hoàn thiện trí tuệ, đạo đức và thiền định; nhờ đó,
chứng đắc giác ngộ và giải thoát ở hiện đời
Đức Phật ,  2 vị tôn giả Sariputta và Moggallana
checked
Tôn giả Xá Lợi Phất phân tích chi tiết về Bốn chân lý vi diệu.
Các ty kheo
checked
Thế Tôn trú giữa dòng họ Sakka (Thích-Ca), ở Kapilavatthu (Ca-ty-la-vệ), tại tinh xá Nigrodha (Ni-câu-luật Thọ Viên).
 
 (P. Dakkhiṇāvibhaṅgasuttaṃ, H.
施分別經) tương đương Cù-đàm-di kinh.131 Dựa vào giá trị đạo đức và
sự đóng góp tích cực cho đời, những bậc đáng được cúng dường bao gồm
đức Phật, bậc Độc Giác, bậc A-la-hán, bậc Bất lai, bậc Nhất lai, bậc Dự
lưu, người đang hướng đến quả Thánh là Tăng Ni và những người đức
hạnh. Nhân đây, đức Phật dạy cách cúng dường và bố thí thanh tịnh đối
với người cho và người nhận.
Đức Phật
checked
Phật kể ra 14 loại cúng dường cá nhân và bảy loại cúng dường cho tập thể.
Tôn giả Ananda ,  Mahapajapati Gotami
checked
 Thế Tôn trú ở Savatthi (Xá-vệ), Jetavana
 
 (P. Anāthapiṇḍikovādasuttaṃ,
H.
教給孤獨經) tương đương Giáo hóa bệnh kinh.132 Nhằm giúp
Anāthap
iṇḍika (Cấp Cô Độc) vượt qua cơn đau nhức kinh khủng, Tôn
giả Sāriputta và Ānanda hướng dẫn cách thực tập vô ngã đối với 6 giác quan, 6 đối tượng, 6 xúc, 6 nhận thức; địa, thủy, hỏa, phong, không, thức;
thế giới này, thế giới khác. Sau khi thực tập có kết quả, Anāthapiṇḍika đã
nhẹ nhàng ra đi và tái sinh vào cõi lành. 
Đức Phật , Tôn giả Sariputta và Tôn giả Ananda
checked
Tôn giả Xá Lợi Phất được mời đến bên tử sàng của trưởng giả. Ngài nói cho ông một pháp thoại gây nhiều cảm hứng về sự không chấp thủ.
Ông Cấp Cô Ðộc (Anāthapindikovāda) ,
checked
Thế Tôn ở Rajagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc-lâm), tại chỗ nuôi dưỡng sóc (Kalandakanivapa).
 
 (P. Channovādasuttaṃ, H. 教闡陀
).133 Tuy 2 Tôn giả Sāriputta và Mahācunda động viên Tôn giả Channa
hãy kham nhẫn, đồng thời quán chiếu 6 giác quan, 6 đối tượng, 6 nhận
thức không phải là ta, sở hữu của ta, tự ngã của ta để vô hiệu hóa cơn đau
trên thân, nhưng Tôn giả Channa không chịu đựng nỗi, đã tự tử sau đó vì
quá đau nhức. Bài kinh dạy phương pháp phi ngã hóa nỗi đau trên thân
và nỗi khổ trong tâm, không đánh đồng thân và tâm là tôi, tự ngã của tôi
và sở hữu của tôi, nhằm vượt qua hội chứng trầm cảm và tự tử.
Đức Phật
checked
Tôn giả Channa ốm nặng, đã tự kết liễu mạng sống mặc dù hai vị tỷ kheo huynh đệ đã cố can ngăn.
Tôn giảả Sariputta (Xá lợi phất), Tôn giả Mahacunda (Ðại Chu-na) và Tôn giả Channa (Xiển-đà) 
checked
Thế Tôn ở Savatthi (Xá-vệ), Jetavana (Kỳ-đà-Lâm)
 
 (P. Puṇṇovādasuttaṃ, H. 教富樓
那經
).134 Được đức Phật xác vấn về lý tưởng truyền bá chân lý, Tôn giả
Pu
ṇṇa (Phú-lâu-na) kiên định rằng Ngài không sợ mắng nhiếc, đánh
đập, ném đá, dùng hung khí tấn công, thậm chí bị giết chết bởi người
dân nước Sunāparanta hung hãn. Giữ được trạng thái an tịnh trong mọi
nghịch cảnh và không chấp thủ mọi thứ trên đời là nền tảng thành công
trong hành đạo và phụng sự nhân sinh.
Đức Phật
checked
Tỷ kheo Punna nhận một lời khích lệ của Phật và quyết định đến sống giữa dân chúng dữ dằn tại một xứ xa xôi.
 Tôn giả Punna (Phú-lâu-na)
checked
 Thế Tôn trú ở Savatthi (Xá-vệ), Jetavana (Kỳ-đà-lâm)
 
 (P. Nandakovādasuttaṃ, H. 教難陀
迦經
).135 Vâng lời Phật dạy, Tôn giả Nandaka giáo giới Ni đoàn về sự
vô thường của mọi sự vật hiện tượng gồm 6 giác quan, 6 đối tượng giác
quan và 6 nhận thức giác quan vốn không phải là tôi, tự ngã của tôi, sở hữu
của tôi; thực tập 7 yếu tố giác ngộ, dùng tuệ giác chặt đứt mọi trói buộc và
khổ đau. An trú sự giải thoát bằng tâm (tu thiền) và giải thoát bằng trí tuệ
Đức Phật, Tôn giả Nandaka
checked
Tôn giả giảng cho ni chúng một bài pháp về vô thường.
 Mahapajapati Gotami , chúng tỳ kheo ni
checked
 Thế Tôn ở Savatthi (Xá-vệ), Jetavana (Kỳ-đà lâm) tại tinh xá ông Anathapindika.
 
 (P. Cūḷarāhulovādasuttaṃ, H.
教羅睺羅小經).136 Đức Phật hướng dẫn Rāhula (La-hầu-la) nhận thức
sâu sắc rằng 6 giác quan, 6 đối tượng giác quan, 6 tiếp xúc giác quan, về
bản chất là vô thường, biến hoại và nếu không làm chủ được sẽ dẫn đến
khổ đau. Không nên đánh đồng chúng là tôi, sở hữu của tôi, tự ngã của
tôi và không đắm nhiễm vào chúng; đồng thời thực tập ly tham, đạt được
giải thoát.
Đức Phật
checked
Phật giảng cho La hầu la một pháp thoại đưa Ngài đến chứng quả A la hán.
Tôn giả Rahula
checked

Bài kinh số 148 :  Kinh Sáu Sáu (Chachakka sutta)

 Thế Tôn ở Savatthi (Xá-vệ), Jetavana (Kỳ-đà Lâm)
 
 (P. Chachakkasuttaṃ, H. 六六經) tương đương
Thuyết xứ kinh.137 Từ sự tiếp xúc của 6 giác quan với 6 đối tượng, phát
sinh 6 nhận thức, 6 cảm nhận và 6 ái luyến giác quan. Nhận diện quá
trình sinh khởi và hoại diệt của mọi sự vật, người tu tập sẽ không chấp
“tự ngã” đã sinh và diệt nơi tôi, nhàm chám mọi nhiễm đắm, làm chủ bản
thân để các năng lượng ngủ ngầm của tham ái, sân hận, si mê không thể
xuất hiện, tăng trưởng và dần bị tiêu diệt
Đức Phật
checked
Một bản kinh hết sức thâm thúy sâu xa dạy cách quán mọi yếu tố thuộc kinh nghiệm giác quan đều là phi ngã.
Các tỳ kheo
checked
 Thế Tôn ở Savatthi (Xá-vệ), Jetavana (Kỳ-đà Lâm)
 
 (P. Mahāsaḷāyatanikasuttaṃ, H. 大六處
).138 Tu tập 37 yếu tố giác ngộ, đặc biệt là Bát chánh đạo, phát huy sự
thấy biết như thật về 6 giác quan, 6 đối tượng giác quan, 6 tiếp xúc… tạo
ra cảm giác khổ, vui và trung tính. Người tu tập sẽ không nhiễm đắm bất
cứ thứ gì trên đời, nhờ đó, 5 nhóm nhân tính không có mặt trong tương
lai, tham ái kết thúc, thân và tâm được an lạc.
Đức Phật
checked
Thế nào là tà kiến về sáu loại kinh nghiệm giác quan sẽ đưa đến trói buộc và chánh kiến về chúng sẽ đưa đến giải thoát.
Các tỳ kheo
checked
Thế Tôn du hành giữa dân chúng Kosala, cùng với Ðại chúng Tỷ-kheo và đi đến một làng Bà-la-môn của dân chúng Kosala tên là Nagaravinda.
 
 (P. Mahāsaḷāyatanikasuttaṃ, H. 大六處
).138 Tu tập 37 yếu tố giác ngộ, đặc biệt là Bát chánh đạo, phát huy sự
thấy biết như thật về 6 giác quan, 6 đối tượng giác quan, 6 tiếp xúc… tạo
ra cảm giác khổ, vui và trung tính. Người tu tập sẽ không nhiễm đắm bất
cứ thứ gì trên đời, nhờ đó, 5 nhóm nhân tính không có mặt trong tương
lai, tham ái kết thúc, thân và tâm được an lạc.
Đức Phật
checked
Phật giảng cho một nhóm gia chủ bà la môn biết hạng sa môn bà la môn nào đáng cung kính.
Các Bà-la-môn gia chủ ở Nagaravinda 
checked
 Thế Tôn ở Rajagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc lâm), tại chỗ nuôi dưỡng sóc (Kalandakanivapa).
 
 (P. Piṇḍapātapārisuddhisuttaṃ, H.
乞食清淨經).140 Nhận diện bản chất “không thực thể” trong mọi sự vật,
người tu tập khi các giác quan tiếp xúc với đối tượng của chúng, cần làm
chủ tâm, không tạo điều kiện cho tham ái, sân hận, si mê xuất hiện. Tinh
tấn soi xét bản thân đã chấm dứt được 5 dục lạc, 5 trói buộc tâm chưa?
Luôn tự hỏi bản thân đã tu tập 4 niệm xứ, 4 tinh tấn, 4 như ý túc, 5 năng
lực, 7 giác ngộ, thiền định, thiền tuệ hay chưa, để quyết tâm tu tập đạt
được trí tuệ và giải thoát.
Đức Phật
checked
Phật dạy Xá lợi Phất một tỷ kheo nên quán xét như thế nào để làm cho mình xứng đáng với thực phẩm xin được.
Tôn giả Sariputta
checked
Thế Tôn ở Kajangala, tại Mukheluvana.
 
 (P. Indriyabhāvanāsuttaṃ, H. 根修習經).149
Khác với cách ẩn sĩ Bà-la-môn lánh đời bằng sự bịt mắt, che tai, đức Phật
dạy kỹ năng buông bỏ sự dính mắc khi 6 giác quan vẫn tiếp xúc 6 đối
tượng hằng ngày, dù hài lòng hay không hài lòng. Các Tăng sĩ nên tinh tấn tu pháp lành, thực hành thiền để không hối hận, trở thành bậc Đạo sư
xứng đáng và có trách nhiệm hướng dẫn mọi người giải phóng khổ đau. 
Đức Phật
checked
Phật giải thích cách tu tập tối thượng là kiểm soát các giác quan và làm chủ các tưởng (nhận thức) nơi vị A la hán.
thanh niên Bà-la-môn Uttara(đệ tử của Pasariya ), tôn giả Ananda
checked

Tìm hiểu Kinh tạng Nikaya – Tâm học là cuốn sách Online giới thiệu về bộ kinh Nikaya , các bản dịch và chú giải được Tâm Học soạn từ các nguồn đáng tín cậy trên mạng internet.

Tuy nhiên đây vẫn là sách chỉ có giá trị tham khảo , mang tính chủ quan của tác giả  Tâm học.

Hits: 8