Kinh Trung Bộ – P2

Kinh Trung Bộ – P2

Phần I  –  Phần II  –  Phần III

 Thế Tôn ở tại Campa, trên bờ hồ Gaggara cùng với đại chúng Tỷ-kheo
 
 (P. Kandarakasuttaṃ, H. 乾達羅迦經).55 Phật phân tích 4 hạng người: (i) Người tự làm khổ mình qua cách tu khổ hạnh;
(ii) Người làm khổ người khác qua nghề tà, nghiệp xấu; (iii) Người vừa tự làm khổ mình vừa làm khổ người khác do phi đạo đức và phạm pháp; (iv) Người mang hạnh phúc cho mình và người khác do lối sống thánh thiện. Đề cao loại người thứ tư, đức Phật khích lệ từ bỏ các nghiệp ác của thân, lời, làm chủ các giác quan, tu tập 4 niệm xứ, chứng đắc 4 thiền và 3
minh, trở thành bậc Chân nhân và Thánh nhân
Đức Phật
checked
Phật bàn đến bốn hạng người được tìm thấy trên đời: hạng người tự hành khổ, hạng người hành khổ người, hạng vừa tự hành khổ vừa hành khổ người, hạng không tự hành khổ, không hành khổ người mà lại sống một đời thực thánh thiện.
Pessa( con trai người huấn luyện voi ), Du sĩ Kandaraka  và các tỳ kheo
checked
Tôn giả Ananda trú ở Vesali (Tỳ-xá-ly), tại Beluvagàmaka (ấp Trúc Lâm).
 
 (P. Aṭṭhakanāgarasuttaṃ, H. 八城經) tương đương Bát thành kinh.56 Tôn giả Ānanda nương lời Phật dạy, hướng dẫn
tu tập 11 cửa bất tử, nhằm đạt được an lạc giải thoát trong hiện đời gồm 4 thiền (hỷ lạc do lìa tham ái, hỷ lạc do định, diệu lạc do bỏ hỷ, xả niệm thanh tịnh), 4 Phạm trú (từ, bi, hỷ, xả) và 3 thiền vô sắc (Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ).
Tôn giả Ananda
checked
Tôn giả Ànanda dạy 11 “cửa bất tử”, qua cửa này một tỳ kheo có thể đạt đến vô thượng an ổn khỏi trói buộc.
gia chủ Dasama, người ở thành Atthaka đến tại Pataliputta (thành Ba-la-lị-phất)
checked
Bài kinh số 053 :  Kinh Hữu Học (Sekha sutta)
Thế Tôn sống giữa các Sakya (Thích-ca), thành Kapilavatthu, tại tinh xá Nigrodha.
 
 (P. Sekhasuttaṃ, H. 有學經). Thay lời đức Phật, Tôn giả Ānanda giới thiệu các hạnh tu của bậc Hữu học, khích lệ mọi
người tu học, kết thúc khổ đau, chứng đạt Thánh quả gồm: (i) Giới hạnh; (ii) Làm chủ 6 giác quan; (iii) Tiết độ trong tiêu thụ; (iv) Chánh niệm trong các oai nghi; (v) Tu 7 diệu pháp (tín, tàm, quý, tấn, văn, niệm, tuệ); (vi) Chứng 4 thiền.
Đức Phật ( Phạm thiên Sanankumara được nhắc đến)
checked
Phật bảo tôn giả Ananda giảng về các pháp tu của một bậc hữu học.
Tôn giả Ananda , vua Shakya  Mahanama và dân Shakya ở Thành Ca Tỳ La Vệ 
checked
Bài kinh số 054 :  Kinh Potaliya (Potaliya sutta)
Một thời Thế Tôn ở tại Anguttarapa. Apana là một thị trấn của Anguttarapa
 
 (P. Potaliyasuttaṃ, H. 哺多利經) tương đương Bô-lợiđa kinh.57 Đức Phật dạy kỹ năng chấm dứt nghiệp và thói phàm
phu gồm sát hại, trộm cắp, nói láo, tham lam, giận dữ, phỉ báng, phẫn nộ, cao ngạo; nhờ đó, con người được hạnh phúc và thành công. Đồng thời, người tu tập thấy rõ tác hại của ái dục như khúc xương, miếng thịt, cầm đuốc đi ngược gió, hố than hừng, cơn mộng, vật mượn và như cây có nhiều quả chín để không bị nhiễm đắm vào dục
Đức Phật
checked
Phật giảng dạy cho một người hợm hĩnh đến tham vấn, ý nghĩa của “đoạn trừ tục sự” trong pháp luật của Ngài. Kinh này đưa ra một loạt những ví dụ đặc sắc về những nguy hiểm của dục lạc.
Gia chủ Potaliya
checked
Bài kinh số 055 :  Kinh Jīvaka (Jīvaka sutta)
Thế Tôn trú ở Rajagaha (Vương Xá), tại rừng xoài của Jivaka Komarabhacca.
 
 (P. Jīvakasuttaṃ, H. 耆婆迦經). Đức Phật giải thích lợi ích của đạo đức và nguyên nhân không nên ăn thịt động vật. Ba trường hợp thịt thanh tịnh thì ăn được: (i) Không thấy cảnh con vật đang bị giết; (ii) Không nghe tiếng kêu của con vật đang bị giết; (iii) Không có hoàinghi về con vật ấy chết vì mình. Đồng thời, đức Phật khuyên mọi người phát triển tâm từ bi, thương yêu con người, động vật và bảo vệ môi trường 
Đức Phật
checked
Phật giảng những quy luật Ngài đã chế định về sự ăn thịt và bảo vệ các đệ tử khỏi bị lên án bất công.
Thần y Jivaka Komarabhacca
checked
Bài kinh số 056 :  Kinh Ưu-ba-ly (Upāli sutta)
Thế Tôn ở tại Nalanda, trong rừng Pavarikamba
 
 (P. Upālisuttaṃ, H. 優婆離經) tương đương Ưubà-ly kinh.58 Sau khi luận chiến với đức Phật, cư sĩ Upāli, đại diện phái
tu Lõa thể, đã nhận Phật làm thầy. Qua đối thoại, đức Phật khẳng định vai trò quan trọng của ý nghiệp đối với hành vi, và thay vào đó, nên tu tứ Thánh đế, kết thúc khổ đau
Đức Phật
checked
Gia chủ giàu có và nổi tiếng tên Upàli, một thí chủ quan trọng của giáo pháp Ni kiền tử, định đến bài bác chủ trương của Phật. Nhưng ngược lại, ông tự thấy mình bị cảm hóa bởi “pháp thuật cảm hóa” của Phật.
Nigantha Nataputta ,Nigantha Dighatapassi (Trường Khổ Hạnh Giả) và gia chủ Upali
checked
 Thế Tôn ở giữa dân chúng Koliya Haliddavasana là tên một thị trấn của dân chúng Koliya.
 
 (P. Kukkuravatikasuttaṃ, H. 狗行者經).58 Sau khi khẳng định pháp tu hạnh con chó và hạnh con bò làm người tu
khổ hạnh đầu thai làm chó, làm bò, bị đọa lạc khổ đau, đức Phật phân tích 4 loại nghiệp và quả báo: (i) Nghiệp đen, quả báo đen; (ii) Nghiệp trắng, quả báo trắng; (iii) Nghiệp nửa đen nửa trắng, quả báo nửa đen nửa trắng; (iv) Nghiệp không đen không trắng, quả bảo không đen không trắng. Phật khuyên mọi người tu nghiệp trắng, tức sống đời đạo đức thanh cao để đạt hạnh phúc và thành công.
Đức Phật
checked
Phật gặp hai nhà khổ hạnh, một người bắt chước lối sống của chó, một người bắt chước lối sống của bò. Ngài cho họ biết sự vô ích của lối tu ấy, và giảng cho họ nghe về nghiệp và quả báo.
 Punna Koliyaputta (hành trì hạnh con bò) và lõa thể Seniya (hành trì hạnh con chó )
checked
Thế Tôn ở tại Rajagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm), Kalandakanivapa (chỗ nuôi các con sóc).
 
 (P. Abhayarājakumārasutta, H. 無畏王子經).59 Đại diện đạo Lõa thể, Vương tử Vô Úy gài bẫy đức Phật phải trả lời “có” hoặc “không” hầu bắt bí Ngài. Đức Phật dạy kỹ năng tháo mở móc câu trong cổ, và khẳng định rằng Ngài thuyết pháp, truyền thông
và đối đáp đều mang tính chân lý, hướng đến mục đích cao quý, bất luận người nghe có thích hay không thích.
Đức Phật
checked
Giáo chủ Ni kiền tử dạy cho Vô Úy vương tử một “câu hỏi hai móc” để có thể bài bác thuyết của Phật. Phật thoát khỏi ngõ bí và giải thích loại lời nào Ngài sẽ nói và loại nào không.
Vương tử Abhaya (Vô Úy) , Nigantha Nataputta
 
 Thế Tôn ở tại Savatthi (Xá vệ), Jetavana (Rừng Kỳ đà)
 
 (P. Bahuvedanīyasuttaṃ, H. 多受經).60 Để giúp mọi người dừng sự tranh cãi về phân loại cảm thọ là 2 hay 3, đức
Phật giải thích rằng tùy tình huống, cảm thọ có thể phân loại: 2 thọ, 3, 5, 6, 18, 36 và 108 thọ. Nhân đó, đức Phật phân tích các cấp độ cảm giác hạnh phúc, thấp nhất là khoái lạc giác quan, cao hơn là hạnh phúc trong thiền định và cao nhất là Niết-bàn.
Đức Phật
checked
Sau khi giải quyết một bất đồng về phân loại các cảm thọ, Phật kể ra các loại lạc và hỉ mà hữu tình có thể cảm thọ.
Tôn giả Ananda , Tôn giả Udayi   ,  người thợ mộc Pancakanga (Ngũ Phần)
checked
Thế Tôn du hành giữa dân chúng Kosala với Ðại chúng Tỷ-kheo và đến tại Sala, một làng Bà-la-môn của dân chúng Kosala
 
 (P. Apaṇṇakasuttaṃ, H. 無戲論 ).61 Đức Phật phân tích tác hại của 5 tà thuyết đương thời, gồm (i) Hư vô luận; (ii) Thuyết không có đời sau; (iii) Thuyết không có quả báo sau khi chết; (iv) Thuyết định mệnh; (v) Thuyết không có các cõi vô sắc.
Theo đó, đức Phật khuyên dù chủ trương điều gì, đi theo học thuyết nào, cũng không nên làm khổ bản thân và làm khổ tha nhân; nên sống đạo đức, dứt các trói buộc tâm, tu thiền định để chứng đắc trí tuệ, giải phóng khổ đau.
 
Đức Phật
checked
Phật giảng cho một nhóm gia chủ là bà la môn một giáo lý không ai cãi được, để giúp họ khỏi mắc kẹt vào sự rối ren của các quan điểm tranh chấp.
Các Bà-la-môn gia chủ ở Sala
checked
 Thế Tôn trú ở Rajagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm), tại Kalandakanivapa (chỗ nuôi dưỡng sóc).
 
 (P. Ambalaṭṭhikārāhulovādasuttaṃ, H. 菴婆孽林教誡羅睺羅經) tương đương La-vân kinh.62 Để giúp chú tiểu La-hầu-la thấy sự nguy hiểm của lời nói dối, đức Phật dùng ảnh dụ “chậu nước” nói về sự mất giá trị, nếu đánh mất sự chân thật, trung thực. Người nói dối như con voi lâm trận, sẵn sàng thí mạng sống mà không tiếc. Người tu hành phải thường xuyên soi gương nhân
cách, biết phản tỉnh, sám hối, chừa bỏ, chuyển nghiệp để trở nên cao quý và lợi ích cho nhiều người.
Đức Phật
checked
Phật khuyến cáo con trai của Ngài là chú tiểu Ràhula về những nguy hiểm trong sự nói dối, và nhấn mạnh tầm quan trọng của sự thường xuyên tư duy về những hành động của mình.
Tôn giả Rahula
checked
Thế Tôn ở Savatthi, Jetavana, tại tịnh xá Anathapindika (Cấp Cô độc).
 
 (P. Mahārāhulovādasuttaṃ, H. 教誡羅睺羅大經).63 Đức Phật dạy Tôn giả La-hầu-la cách quán sắc pháp và 5 uẩn không phải là tôi, tự ngã của tôi và sở hữu của tôi. Đồng thời, Ngài hướng dẫn cách tu thiền quán 4 đại, từ, bi, hỷ, xả, bất tịnh, vô thường,
niệm hơi thở để vượt qua nghiệp phàm, đạt được giác ngộ và giải thoát.
Đức Phật
checked
Phật dạy cho La hầu la pháp thiền quán về các đại chủng, về niệm hơi thở, và các đề tài khác.
Tôn giả Rahula
checked
Thế Tôn trú ở Savatthi, Jetavana, tại tịnh xá ông Anathapindika (Cấp Cô Ðộc).
 
 (P. ḷamālukyasuttaṃ, H. 摩羅迦小經) tương đương Tiễn dụ kinh.64 Nhân dịp Māluṅkyaputta định hoàn tục do đức Phật không giải thích các vấn đề siêu hình, đức Phật dạy về tính trị liệu thực tiễn của Phật pháp. Cũng như nạn nhân cần thiết, khẩn cấp nhổ mũi tên độc ra khỏi cơ thể, người tu tập cần nhổ gốc khổ đau và sinh tử; thực hành tứ Thánh đế, giải phóng khổ đau, đạt được an tịnh, trí tuệ, giác ngộ và chứng Niết-bàn.
Đức Phật
checked
Một tỳ kheo dọa sẽ từ bỏ tăng đoàn nếu Phật không trả lời cho ông những câu hỏi về siêu hình. Với ví dụ người bị trúng một mũi tên độc, Phật nêu rõ những gì Ngài có giảng dạy và không giảng dạy.
Tôn giả Malunkyaputta
checked
Thế Tôn trú ở Savatthi, Jetavana, tại tịnh xá ông Anathapindika (Cấp Cô Ðộc).
 
 (P. Mahāmāluṅkyasuttaṃ, H. 摩羅迦大經) tương đương Ngũ hạ phần kiết kinh.65 Đức Phật khuyên mọi người tinh tấn chặt đứt 5 trói buộc thấp, gồm thân kiến, hoài nghi, giới cấm thủ, dục và sân để giải phóng khổ đau, chứng đắc quả Thánh. Cũng như cách lấy lõi cây, người tu cần nghe giảng pháp, quán 5 uẩn vô thường, làm chủ giác quan, tu tập 4 thiền định, phát triển trí tuệ. 
Đức Phật
checked
Phật giảng dạy con đường từ bỏ năm hạ phần kết sử.
Tôn giả Malunkyaputta , Tôn giả Ananda , các tỳ kheo
checked
Bài kinh số 065 :  Kinh Bhaddāli (Bhaddāli sutta)
Thế Tôn trú tại Savatthi, Jetavana, tịnh xá ông Anathapindika (Cấp Cô Ðộc).
 
 (P. Bhaddālisuttaṃ, H. 跋陀利經) tương đương Bạt đà-hòa-lợi kinh.66 Nhân dịp nhắc nhở một Tăng sĩ ương ngạnh không
giữ được giới “ăn một lần trước ngọ”, đức Phật khuyên mọi người phải tuân thủ giới hạnh thanh cao; không tránh né, không bất mãn, không chống đối khi được nhắc nhở; khi có tội và bị cử tội nên phát lồ sám hối, nỗ lực chuyển nghiệp; siêng tu thiền định, khai mở trí tuệ để chứng đắc các quả Thánh
Đức Phật
checked
Phật quở trách một tỳ kheo ươn ngạnh và giải thích những bất lợi của sự không tuân theo học giới.
Tôn giả Bhaddali , các tỳ kheo
checked
Thế Tôn ở tại Anguttarapa (Ương-già Bắc Phương Thủy). Apana là một thị tứ của Anguttarapa.
 
 (P. Bhaddālisuttaṃ, H. 跋陀利經) tương đương
Bạt đà-hòa-lợi kinh.66 Nhân dịp nhắc nhở một Tăng sĩ ương ngạnh không
giữ được giới “ăn một lần trước ngọ”, đức Phật khuyên mọi người phải
tuân thủ giới hạnh thanh cao; không tránh né, không bất mãn, không
chống đối khi được nhắc nhở; khi có tội và bị cử tội nên phát lồ sám hối,
nỗ lực chuyển nghiệp; siêng tu thiền định, khai mở trí tuệ để chứng đắc
các quả Thánh
Đức Phật
checked
Phật cho thấy sự quan trọng của việc từ bỏ mọi kết sử, dù chúng có thể mang vẻ vô hại, không đáng kể.
 Tôn giả Udayi 
checked
Bài kinh số 067 :  Kinh Cātumā (Cātumā sutta)
Thế Tôn ở tại Catuma trong rừng cây Kha-lưu-lạc (Myrobalan).
 
 (P. Cātumāsuttaṃ, H. 車頭聚落經).68 Như người
xuống nước sợ sóng, cá sấu, nước xoáy, cá dữ; đức Phật dạy rằng người
tu bị thất bại, hoàn tục là do: (i) Bệnh tự ái, vì người dạy nhỏ tuổi hơn,
như sóng dữ; (ii) Thèm ăn ngon và phi thời, như cá sấu; (iii) Tiếc không
hưởng thụ được 5 dục lạc, như nước xoáy; (iv) Bị dục tình phá hoại,
không phòng hộ các giác quan, như cá dữ. Đức Phật cũng khuyến khích
tứ chúng cần noi gương Tôn giả Sāriputta và Mahāmoggallāna sống an
lạc trong hiện tại.
Đức Phật
checked
Phật giảng dạy cho một nhóm tân tỳ kheo về bốn nguy hiểm mà người xuất gia từ bỏ gia đình cần phải vượt qua.
Khoảng năm trăm Tỷ-kheo mới,  Sariputta (Xá-lợi-phất),Moggallana (Mục-kiền-liên) , tôn giả Ananda , Các Thích tử ở Catuma và Phạm thiên Sahampati
checked
Thế Tôn trú giữa dân chúng Kosala (Câu-tát-la) tại Nalakapana, rừng cây Palasa.
 
 (P. Naḷakapānasuttaṃ, H. 那羅伽波寧村 ) tương đương Sa-kê-đế tam tộc tánh tử kinh.69 Đức Phật khen ngợi
và khích lệ những người đi tu vì lý tưởng cao quý, giữ giới hạnh, tu thiền
định, đạt trí tuệ, nhằm giải phóng khổ đau của bản thân và mang lại hạnh
phúc cho tha nhân. Đức Phật xác quyết rằng chỉ vì muốn mang lại lợi ích
cho con người, đức Phật nói về cảnh giới tái sanh lành của Tăng Ni và
Phật tử sau khi qua đời.
 
Đức Phật
checked
Phật giải thích tại sao Ngài công bố sự chứng đắc và cõi tái sinh của các đệ tử khi họ chết.
 Tôn giả Anuruddha (A-na-luật-đà), Tôn giả Nandiya, Tôn giả Kimbila, Tôn giả Bhagu, Tôn giả Kundadhana, Tôn giả Revata, Tôn giả Ananda và một số Thiện gia nam tử danh tiếng khác
checked
Bài kinh số 069 :  Kinh Gulisāni (Gulisāni sutta)
Thế Tôn trú ở Rajagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm), tại Kalandakanivapa (chỗ nuôi dưỡng sóc).
 
 (P. Goliyānisuttaṃ, H. 瞿尼師經) tương đương
Cù-ni sư kinh.70 Tôn giả Sāriputta dạy 17 yếu tố giúp người tu ở rừng hay
thành thị trở thành bậc Chân nhân và Thánh nhân, gồm: (i) Tôn trọng
đồng tu; (ii) Khiêm tốn và nhường nhịn; (iii) Không vào làng quá sớm,
không trở về quá muộn; (iv) Không đến gia đình trước và sau buổi ăn;
(v) Không dao động thân; (vi) Không nhiều chuyện; (vii) Làm người
bạn tốt, dễ góp ý; (viii) Hộ trì các giác quan; (ix) Tiết độ trong ăn uống;
(x) Chú tâm; (xi) Tu tinh cần, tinh tấn; (xii) Chánh niệm, tỉnh giác;
(xiii) Tu thiền định; (xiv) Có trí tuệ; (xv) Tu Thắng pháp, Thắng luật;
(xvi) Tu Tịch tịnh giải thoát; (xvii) Tu pháp Thượng nhân.
Tôn giả Mahamoggallana,Tôn giả Sariputta 
checked
Tôn giả Xá lợi Phất giảng về cách tu tập thích hợp cho một tỳ kheo ở rừng.
Các tỳ kheo ,Tỷ-kheo Gulissani (hành động thô tháo )
checked
Bài kinh số 070 :  Kinh Kītāgiri (Kītāgiri sutta)
Thế Tôn du hành ở Kasi cùng với đại chúng Tỷ-kheo
 
 (P. Kīṭāgirisuttaṃ, H. 枳吒山邑經) tương đương
A-thấp bối kinh.71 Nhân dịp nói về lợi ích của việc không ăn phi thời, đức
Phật khuyên người tu nên tinh tấn tu học và an trú vào hạnh phúc do dứt
các pháp bất thiện. Nhờ đó, người tu tập chứng quả Thánh bằng 7 cách:
(i) Câu phần giải thoát; (ii) Tuệ giải thoát; (iii) Thân chứng; (iv) Kiến
đáo; (v) Tín giải thoát; (vi) Tùy pháp hành; (vii) Tùy tín hành.
Đức Phật
checked
Phật giáo giới nhóm tỳ kheo bất tuân, và trình bày một phân loại quan trọng về bảy hạng hiền thánh.
Tỷ-kheo Assaji,Tỷ-kheo Punabbasuka và các tỳ kheo
checked
Thế Tôn ở Vesali (Tỳ-xá-ly) rừng Ðại Lâm, tại Kutagarasala (Giảng đường Trùng Các).
 
 (P. Tevijjavacchagottasuttaṃ, H.
蹉衢多三明經
).72 Đức Phật cho rằng những gì mà Ngài đạt được, thực
chất là 3 tuệ giác (Tam minh) gồm tuệ giác quá khứ của bản thân, tuệ
giác về tái sinh của hữu tình và tuệ giác về sự chấm dứt khổ đau trong
hiện tại. Đồng thời, đức Phật khẳng định trí “biết hết mọi thứ” (nhất
thiết trí) trong lúc thức và lúc ngủ (nếu không có tác ý hướng tâm đến
đối tượng) là không có thật. Giải thoát, theo đức Phật, thực chất là giải
thoát tâm khỏi trói buộc (tâm giải thoát) và giải thoát bằng trí tuệ (tuệ
giải thoát).
Đức Phật
checked
Phật phủ nhận có toàn tri về mọi sự vào mọi lúc, và định nghĩa ba minh mà Ngài chứng.
du sĩ ngoại đạo Vacchagotta
checked
Thế Tôn ở Savatthi (Xá-vệ) Jetavana (Kỳ-đà-Lâm)
 
 (P. Aggivacchagottasuttaṃ, H. 婆蹉衢多 []).73 Đức Phật chủ trương không mất thời gian trả lời các câu
hỏi siêu hình, các câu chuyện hý luận. Để đạt được sự ly tham, giác ngộ và
giải thoát, đức Phật hướng dẫn kỹ năng vượt qua các ảo tưởng về ngã, ngã
sở hữu, ngã tùy miên đối với bản thân và mọi sự vật trên đời. Bậc Giác
ngộ sau khi chết cũng như hiện tượng củi hết, lửa tắt, không thể truy tìm
được hướng đi
 
Đức Phật
checked
Phật giảng cho một du sĩ tại sao Ngài không giữ một quan điểm tư duy nào. Với ví dụ ngọn lửa, Ngài cố nói ra số phận của người đã giải thoát.
 du sĩ ngoại đạo Vacchagotta
checked
Thế Tôn ở tại Rajagaha (Vương Xá), Veluvàna (Trúc Lâm), nơi Kalandakanivape (chỗ nuôi dưỡng sóc).
 
 (P. Mahāvacchagottasuttaṃ, H. 婆蹉衢多
大經
).75 Nhờ lắng nghe đức Phật truy nguyên nguồn gốc của khổ đau
từ tham ái, giận dữ, si mê và khích lệ từ bỏ 10 nghiệp bất thiện (giết hại,
trộm cắp, tà dâm, nói láo, nói chia rẽ, nói thô ác, nói phù phiếm, tham,
sân, tà kiến), du sĩ Vacchagotta trở thành Tăng sĩ, tu tập chân chánh,
chứng đắc Thánh quả
Đức Phật
checked
Phật giảng cho một du sĩ tại sao Ngài không giữ một quan điểm tư duy nào. Với ví dụ ngọn lửa, Ngài cố nói ra số phận của người đã giải thoát.
 du sĩ ngoại đạo Vacchagotta , các tỳ kheo
checked
Thế Tôn ở tại Rajagaha (Vương Xá), trên núi Gijjhakuta (Linh Thứu), trong hang Sukarakhata.
 
 (P. Dīghanakhasuttaṃ, H. 長爪經).74 Chứng
minh tác hại từ thuyết Hoài nghi của ngoại đạo Trường Trảo, đức Phật
hướng dẫn quán vô ngã đối với thân (từ tinh cha, trứng mẹ, được phối
hợp bởi đất, nước, lửa, gió). Thân và 3 loại cảm xúc khổ đau, hạnh phúc,
trung tính đều bị vô thường chi phối, bị đoạn diệt, bị hủy hoại; cũng là
vô ngã và bị vô thường chi phối. Để giải thoát, không nên chấp thủ thân,
cảm xúc; không chấp thủ danh từ và mọi thứ trên đời
Đức Phật
checked
Phật bác bỏ những lời tuyên bố của một kẻ theo chủ thuyết hoài nghi và dạy con đường giải thoát do quán cảm thọ.
 du sĩ ngoại đạo Dìghanakha (Trường Trảo Aggivessana)  , tôn giả Sariputa
checked
Bài kinh số 075 :  Kinh Māgandiya (Māgandiya sutta)
 Thế Tôn trú giữa dân chúng Kuru, tại thị trấn của dân chúng Kuru tên là Kammasadhamma, trên thảm cỏ trong nhà lửa của một Bà-la-môn thuộc dòng họ Bharadvajia.
 
 (P. Māgaṇḍiyasuttaṃ, H. 摩犍提經) tương
đương
Tu-nhàn-đề kinh.75 Phân tích sự nguy hiểm và tác hại của thuyết
hưởng lạc đối với 5 dục lạc, đức Phật giải thích giá trị của hạnh phúc do
tu thiền (thiền lạc). Bằng ảnh dụ “hạnh phúc cõi trời cao hơn hạnh phúc
cõi người” và “sự đỡ ngứa do cào vết thương”, đức Phật khẳng định dục
lạc sẽ thiêu đốt con người trong bất hạnh về lâu dài. Tu 4 cấp thiền định
giúp con người trải nghiệm hạnh phúc sâu lắng, kết thúc khổ đau.
Đức Phật
checked
Phật bác bỏ những lời tuyên bố của một kẻ theo chủ thuyết hoài nghi và dạy con đường giải thoát do quán cảm thọ.
Tôn giả  Magandiya, Tôn giả Bharadvaja
checked
Bài kinh số 076 :  Kinh Sandaka (Sandaka sutta)
 Thế Tôn trú ở Kosambi (Kiều-thưởng-di), tại tu viện Ghosita (Cù-sư-la).
 
 (P. Sandakasuttaṃ, H. 刪陀迦經).76 Dựa vào lời đức Phật, Tôn giả Ānanda bác bỏ 4 tà thuyết: (i) Thuyết vô hành; (ii)
Thuyết vô nhân quả; (iii) Thuyết định mệnh; (iv) Thuyết luân hồi tịnh
hóa. Đồng thời, nói rõ tác hại của 4 thuyết bất an: (i) Ngụy biện về toàn
trí; (ii) Xem truyền thuyết là chân lý; (iii) Giỏi biện luận theo tư biện, khi
này khi khác; (iv) Ngụy biện như con lươn. Đồng thời, Tôn giả khuyên
mọi người tu chánh đạo, dứt năm trói buộc tâm, tu tập thiền định, đạt trí
tuệ, kết thúc khổ đau. 
Tôn giả Ananda
checked
Tôn giả A nan giảng dạy cho một nhóm du sĩ bốn đường lối phủ nhận đời sống phạm hạnh – phi phạm hạnh trú – và 4 loại đời sống phạm hạnh bất an “bất an phạm hạnh.” Rồi Ngài giảng thế nào là đời sống phạm hạnh thực sự có hiệu quả.
 du sĩ Sandaka trú ở hang Pilakka với đại chúng du sĩ, khoảng độ năm trăm du sĩ
checked
Thế Tôn trú ở Rajagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm), tại Kalandakanivapa (chỗ nuôi dưỡng sóc).
 
 (P. Mahāsakuludāyisuttaṃ, H. 善生優陀
夷大經
) tương đương Tiễn mao kinh.77 Đức Phật chia sẻ lý do nhiều
người tu học theo Ngài là do Ngài đạt được sự tối thượng về giới đức,
thuyết pháp với thắng trí, trí tuệ biết rõ người và mọi việc, dùng tứ Thánh
đế vượt qua khổ đau và hướng dẫn tu tập 4 chánh niệm, 4 chánh cần, 4
như ý túc, 5 căn, 5 lực, 7 giác ngộ, 8 chánh đạo
Đức Phật ( có nhắc đến 1 số vị lãnh đạo các giáo phái , tôn giáo )
checked
Phật dạy cho một nhóm du sĩ những lý do vì sao các đệ tử Ngài tôn trọng Ngài và sống dưới sự hướng dẫn của Ngài.
du sĩ Sakuludayi  ( tôn giả Udayi)
checked
Thế Tôn trú ở Savatthi (Xá-vệ), Jetavana (Kỳ Viên), tại tinh xá Anathapindika (Cấp Cô Ðộc).
 
 (P. Samaṇamuṇḍikasuttaṃ, H. 沙門
文祁子經
) tương đương Ngũ chi vật chủ kinh.78 Phân tích giới hạn của
thuyết không làm ác, không hành nghề ác là thiện tối thượng, đức Phật
dạy tiêu chuẩn của bậc chân tu gồm biết rõ thiện ác từ tư duy đến hành
động, nghề nghiệp và tu tập; tu tập 4 tinh tấn để nhổ lên gốc rễ của nghiệp
và lối sống bất thiện là tham, sân, si và chấm dứt dục tưởng, sân tưởng,
hại tưởng; tu tập 4 thiền định và hoàn thiện 8 chánh đạo giúp người tu
trở thành bậc chân tu, đạt được chánh trí và giải thoát
Đức Phật ( có nhắc đến 1 số vị lãnh đạo các giáo phái , tôn giáo )
checked
Phật giải thích làm thế nào một người được gọi là đã đạt đến sự chứng đắc tối thượng
du sĩ Uggahamana( con của Samanamandika, trú ở tinh xá của Mallika tại Ekasalaka) ,  thợ mộc Pancakanga
checked
 Thế Tôn trú ở Rajagaha (Vương Xá). Veluvana (Trúc Lâm), ở Kalandakanivapa (chỗ nuôi dưỡng sóc).
 
 (P. Cūḷasakuludāyisuttaṃ, H. 善生優陀
夷小經
) tương đương Tiễn mao kinh.79 Phủ định thuyết toàn tri trong
khi thức và ngủ của Ni-kiền tử, đức Phật dạy thuyết tương duyên về sự
sinh diệt của con người và vạn vật. Phật liệt dẫn các loại ánh sáng, gồm
ánh sáng đom đóm, đèn cầy, đuốc, đống lửa lớn, ngôi sao, mặt trăng rằm,
mặt trời đứng bóng, và cho rằng ánh sáng trí tuệ là tuyệt vời nhất. Để
chứng đắc Tam minh, tức trí tuệ của bậc Giác ngộ, con người cần tu đạo
đức và 4 thiền định, nhờ đó kết thúc khổ đau.
Đức Phật
checked
Phật xét lý thuyết của một du sĩ khổ hạnh, dùng ví dụ người con gái đẹp nhất nước để nêu rõ tính điên rồ của những gì ông tuyên bố.
Du sĩ Sakuludayi ở tại Moranivapa (Khổng Tước Lâm), một tinh xá du sĩ, cùng với đại chúng du sĩ
checked
Bài kinh số 080 :  Kinh Vekhanassa (Vekhanassa sutta)
Thế Tôn ở tại Savatthi (Xá-vệ) , Jetavana (Kỳ-đà Lâm), tịnh xá ông Anathapinka (Cấp Cô Ðộc).
 
 (P. Vekhanassasuttaṃ, H. 鞞摩那修經) tương đương Bệ-ma-na-tu kinh.80 Giống kinh 79, đề cao giá trị của trí tuệ vượt
lên trên các loại ánh sáng, đức Phật hướng dẫn kỹ năng vượt qua thói
quen hưởng thụ 5 dục lạc (sắc, thanh, hương, vị, xúc) dễ chịu, hấp dẫn;
hoàn thiện đạo đức và thiền định, chặt đứt 5 trói buộc tâm, đạt giác ngộ
và giải thoát. 
Đức Phật
checked
Một bài kinh có phần tương tự kinh trước, thêm đoạn nói về dục lạc.
Du sĩ Vekhanassa ( Kaccana )
checked
Thế Tôn đi du hành giữa dân chúng Kosala với đại chúng Tỷ-kheo.
 
 (P. Ghaṭikārasuttaṃ, H. 陶師經) tương đương
Bệ-bà lăng-kỳ kinh.83 Không nhận lời thỉnh cầu cúng dường của Vua Kikī
vì đã nhận lời của người thợ gốm, đức Phật gián tiếp khích lệ mọi người
cần đạt được 6 ưu việt như thợ gốm: (i) Không phiền não nếu bị từ chối;
(ii) Quy y Tam bảo và giữ 5 đạo đức; (iii) Chánh tín với Phật pháp, không
hoài nghi về 4 chân lý Thánh; (iv) Sống theo thiện pháp, tiết độ ăn uống;
(v) Hiếu kính cha mẹ già; (vi) Chứng quả Bất hoàn.
Đức Phật ( thanh niên Jotipala  – Bồ tát ,thợ gốm Ghatikara – bạn của ngài nay là 1 vị thiên , Kassapa là vị Thế Tôn lúc bấy giờ)
checked
Phật thuật câu chuyện về người cư sĩ ngoại hộ chính thức của Phật Ca Diếp thời quá khứ.
Tôn giả Ananda
checked
 Thế Tôn du hành ở giữa dân chúng Kuru, cùng với đại chúng Tỷ-kheo, và đi đến một thị trấn của dân chúng Kuru tên là Thullakotthita
 
 (P. Raṭṭhapālasuttaṃ, H. 賴吒恕羅經) tương
đương
Lại-tra-hòa-la kinh.81 Câu chuyện thanh niên nhà giàu có, nhờ
tuyệt thực đã thuyết phục thành công cha mẹ cho đi tu. Khi về thăm lại
gia đình, vị Tăng sĩ này chia sẻ lý tưởng xuất gia do thấy rõ: (i) Cuộc đời
vô thường; (ii) Mọi thứ vô hộ và vô chủ; (iii) Vô ngã và vô sở hữu; (iv)
Con người bị chi phối bởi lão suy, bệnh suy, tài suy, thân suy. Nhưng nếu
làm bậc chân tu, chúng ta không chỉ tạo hạnh phúc cho mình mà còn cứu
độ nhân sinh.
Đức Phật
checked
Chuyện về một thanh niên cưỡng lại ước muốn của cha mẹ mà đi tu, và sau trở về thăm cha mẹ.
Tôn giả Ratthapala (con 1 gia chủ ở Thullakotthita) , gia đình tôn giả và vị vua Koravya được nhắc đến
checked
Bài kinh số 083 :  Kinh Makhādeva (Makhādeva sutta)
 Thế Tôn trú ở Mithila (Di-tát-la), tại rừng Makhadevamba.
 
 (P. Makhādevasuttaṃ, H. 大天奈林經) tương
đương Đại Thiên nại lâm kinh.
82 Phật nhắc tích truyện kiếp quá khứ khi
Ngài là Vua Makhādeva của Mithilā, quản trị đất nước theo pháp quyền
và Chánh pháp, sống chuẩn mực về đạo đức theo truyền thống cao quý.
Trao ngai vàng cho con, vua xuất gia vì lý tưởng độ sinh, tu trọn vẹn từ,
bi, hỷ, xả; khi chết được sinh trên cõi trời Ba Mươi Ba. Nay đức Phật lập
truyền thống tâm linh mới, đưa đến ly tham, chấm dứt khổ đau, chứng
đạt thượng trí, giác ngộ, giải thoát cho nhiều người.
Đức Phật ( 1 tiền kiếp là vị  vuaMakhadeva thiết lập chánh pháp ở Mithila sau đó bị đứt quãng)
checked
Chuyện về một dòng vua ngày xưa, truyền thống tu hành của họ đã do phóng dật mà bị gián đoạn như thế nào.
Tôn giả Ananda
checked
Bài kinh số 084 :  Kinh Madhurā (Madhurā sutta)
Tôn giả Mahakaccana (Ðại Ca-chiên-diên) trú ở Madhura, tại rừng Gunda.
 
 (P. Madhurāsuttaṃ, H. 摩偷羅經).83 Dựa vào
các nguyên lý bình đẳng của Phật, Tôn giả Mahākaccāna (Đại Ca-chiêndiên) đã phân tích sự vô nghĩa của chủ nghĩa giai cấp Ấn Độ bằng các
luận chứng bình đẳng rất sâu sắc và vững chắc gồm bình đẳng pháp lý,
bình đẳng nhân quả, bình đẳng đạo đức và bình đẳng tu chứng.
Tôn giả Mahakaccana
checked
Tôn giả Ðại Ca Chiên Diên xét lại lời công bố của bà la môn rằng chỉ có giai cấp của họ là tối thượng.
Vua Madhura Avantiputta 
checked
Thế Tôn sống giữa dân chúng Bhagga, tại Sunsumaragira, rừng Bhesakala, vườn Lộc Uyển.
 
 (P. Bodhirājakumārasuttaṃ, H. 菩提王子
).84 Bài kinh phân tích về 2 quan điểm hạnh phúc của Ấn Độ giáo và
Phật giáo. Nếu Ấn Độ giáo cho rằng hạnh phúc có được do thực hành
khổ hạnh thì ngược lại Phật giáo khẳng định hạnh phúc có được do sự
chuyển hóa tâm thức.
Đức Phật ( 2 vị đạo sư Alara Kalama và Uddaka Ramaputta ,Phạm thiên Sahampati  được nhắc đến)
checked
Phật bác lời tuyên bố rằng lạc có được nhờ khổ, bằng cách kể lại cuộc tầm cầu giác ngộ của chính Ngài.
vương tử Bodhi (Bồ-đề) , thanh niên Sanjikaputta , tôn giả Ananda
checked
 Thế Tôn trú tại Savatthi, Jetavana, ở tinh xá ông Anthapindika (Cấp cô độc).
 
 (P. Aṅgulimālasuttaṃ, H. 鴦掘摩經).85 Bài
kinh khẳng định con đường giác ngộ rộng mở với tất cả mọi đối tượng,
khi sự hồi đầu có mặt. Sự hồi đầu trong bài kinh này bắt đầu bằng sự ngạc
nhiên đối với triết lý, dẫn đến chuyển hóa các nghiệp xấu.
Đức Phật
checked
Kể chuyện Phật hàng phục Chuỗi ngón tay, tên tội phạm nổi tiếng, và đưa ông ta đến chứng đắc A la hán quả.
Tôn giả Angulimala ( Vô Não) , vua Pasenadi
checked
Bài kinh số 087 :  Kinh Ái Sanh (Piyajātika sutta)
 Thế Tôn trú ở Savatthi, Jetavana, tại tinh xá ông Anathapindika (Cấp cô độc).
 
 (P. Piyajātikasuttaṃ, H. 愛生經) tương đương Ái
sanh kinh.
86 Cái chết được khẳng định như một quy luật. Thái độ tiếc
thương của người thân đối với người đã khuất không làm cho người thân
sống lại. Thương tiếc người thân là gốc rễ của sầu, bi, khổ, ưu, não.
Đức Phật
checked
Vì sao Phật dạy sầu ưu khởi lên từ những người thân ái.
1 vị bà la môn mất con , vua Pasenadi , hoàng hậu Mallika , Bà-la-môn Nalijangha và 1 số người được nhắc đến ( tướng quân nước Kosala , con gái hoàng hậu Mallika và vua Pasenadi, hoàng phi dòng họ Thích Ca))
checked

Bài kinh số 088 :  Kinh Bāhitika (Bāhitika sutta)

Thế Tôn ở Savatthi, Jetavana, tại tịnh xá ông Anathapindika (Cấp cô độc).
 
 (P. Bāhitikasuttaṃ, H. 鞞訶提經) tương đương
Bệ-hađề kinh.90 Đạo đức của người tu được đánh giá từ các hành vi của
thân, biểu đạt của khẩu hành và ý niệm mang lại lợi lạc cho mình và
người, có giá trị xây dựng và chuyển hóa, không bận tâm về sự đền đáp (P. Bāhitikasuttaṃ, H. 鞞訶提經) tương đương
Bệ-hađề kinh.90 Đạo đức của người tu được đánh giá từ các hành vi của
thân, biểu đạt của khẩu hành và ý niệm mang lại lợi lạc cho mình và
người, có giá trị xây dựng và chuyển hóa, không bận tâm về sự đền đáp 
Đức Phật  , Tôn giả Ananda
checked
Tôn giả A nan trả lời những câu hỏi của vua Ba tư nặc về hạnh của Phật.
Tôn giả Ananda, vua Pasenadi ,  đại thần Sirivaddha , các tỳ kheo
checked
Thế Tôn ở giữa dân chúng Sakka (Thích-ca). Medalumpa là một thị trấn của dân chúng Sakka.
 
 (P. Dhammacetiyasuttaṃ, H. 法莊嚴
) tương đương Pháp trang nghiêm kinh.87 Thông qua chuyện đời tự kể
của Vua Pasenadi về lý do theo Phật, bài kinh giới thiệu các giá trị của
đạo Phật, theo đó, con người quay về nương tựa đạt được các giá trị tâm
linh, đạo đức, an lạc và giải thoát.
Đức Phật
checked
Vua Ba tư nặc đưa ra mười lý do ông bày tỏ lòng kính mộ sâu xa đối với Phật.
Vua Pasenadi  , Digha Karayana ,  các tỳ kheo , 2 vị quan  Isidatta và Purana được nhắc đến
checked
Thế Tôn trú tại Ujunna, gần vườn Lộc Uyển ở Kannakatthala.
 
 (P. Kaṇṇakatthalasuttaṃ, H. 普棘刺林
) tương đương Nhứt thiết trí kinh.88 Đức Phật xác minh rằng Ngài
không chấp nhận khái niệm toàn tri là biết mọi thứ, trong mọi lúc và
trong mọi thời. Nhân đó, Phật thuyết minh về thuyết bình đẳng tâm linh
trong các giai cấp, giá trị tinh tấn trong thành công và chứng đắc, giá trị của tâm
không não hại, có thể giúp cho con người phát triển hạnh phúc và bình an
Đức Phật
checked
Vua Ba tư nặc hỏi Phật về toàn tri, về phân biệt giai cấp, và về chư thiên.
Vua Pasenadi , 2 vị hoàng phi Soma và Sakula , tướng quân Vidudabha  , Bà-la-môn Sanjaya
checked
Bài kinh số 091 :  Kinh Brahmāyu (Brahmāyu sutta)
Thế Tôn du hành ở Videha, cùng với đại chúng Tỷ-kheo khoảng năm trăm vị.
 
 (P. Brahmāyusuttaṃ, H. 梵摩經) tương đương
Phạm ma kinh.89 Từ niềm tin rằng nhân tướng của một con người thể
hiện nhân cách của người đó, các Bà-la-môn đã đến với đức Phật và trở
thành đệ tử của Ngài. Nếu Bà-la-môn giáo nhấn mạnh về nhân tướng, thì
Phật giáo nhấn mạnh về nhân cách thông qua sự huấn luyện các oai nghi
tế hạnh.
Đức Phật
checked
Một người bà la môn già uyên bác tìm hiểu về Phật, đến gặp Ngài và trở thành đệ tử Ngài.
 Bà-la-môn Brahmayu già yếu , thanh niên Uttara ( đệ tử Brahmayu) , các tỳ kheo
checked
Bài kinh số 092 :  Kinh Sela (Sela sutta)
Thế Tôn du hành ở Anguttarapa cùng với đại chúng Tỷ-kheo một ngàn hai trăm năm mươi vị, và đi đến một thị trấn của Anguttarapa tên là Apana.
 
 (P. Selasuttaṃ, H. 施羅經).90 Bài kinh giới thiệu nghệ
thuật chia sẻ phước duyên với người thân. Khi gặp được Phật pháp, ta
nên có trách nhiệm chia sẻ và lan truyền giá trị tâm linh, hạnh phúc đến
với mọi người. Đây chính là cách giúp đỡ người thân có ý nghĩa và giá trị.
Đức Phật
checked
Bà la môn Sela hỏi Phật, đạt được đức tin nơi Ngài và trở thành một tỳ kheo theo đoàn đệ tử Phật.
Bà la môn Sela , bện tóc Keniya  , vua Bimbisara được nhắc đến
checked
 Tôn trú ở Savatthi, Jetavana, tại tinh xá ông Anathapindika (Cấp Cô Ðộc).
 
 (P. Assalāyanasuttaṃ, H. 阿攝惒經) tương
đương
Phạm chí A-nhiếp-hòa kinh.91 Thông qua sự phân tích về gien di truyền, quyền lực kinh tế, giá trị nhân phẩm đạo đức, hôn nhân dị chủng
và các nhu yếu hàng ngày, đức Phật đã chứng minh rằng niềm tin về sự thanh
tịnh và độc tôn của giai cấp Bà-la-môn chỉ là sự rỗng tuếch, không có căn cứ. 
Đức Phật
checked
Một thanh niên bà la môn đến Phật tranh luận đề tài giai cấp bà la môn là cao nhất.
Thần đồng Balamon  Assalàyana ( Ẩn sĩ Asita Devala được nhắc đến)
checked
Bài kinh số 094 :  Kinh Ghotamukha (Ghotamukha sutta)
 Tôn giả Udena trú ở Baranasi (Ba-la-nại), tại rừng xoài Khemiya.
 
 (P. Ghoṭamukhasuttaṃ, H. 瞿哆牟伽經).92
Sự quy ngưỡng của tín đồ đối với người xuất gia thường gắn liền với đức
hạnh và giá trị tâm linh của vị ấy. Nếu có nhiều người làm mất niềm tin
của quần chúng thì cũng có những người mẫu mực, đáng quy ngưỡng và
phát tâm.
Tôn giả Udena
checked
Một cuộc luận đàm giữa bà la môn và tỳ kheo về vấn đề: đời sống viễn ly có hợp chính pháp không.
Bà-la-môn Ghotamukha (người cúng giảng đường Bà-la-môn Ghotamukhi)
checked
Bài kinh số 095 :  Kinh Cankī (Cankī sutta)
 Thế Tôn du hành trong nước Kosala cùng với Ðại chúng Tỷ-kheo, và đi đến một làng Bà-la-môn của dân chúng Kosala, tên là Opasada.
 
 (P. Caṅkīsuttaṃ, H. 商伽經). Theo đức Phật, chân
lý đích thực không bao giờ là sự phiến diện, độc đoán một chiều. Nghệ
thuật khám phá, hộ trì và chứng đạt chân lý không gì khác hơn là sự hành
trì chân lý
Đức Phật
checked
Phật giáo giới một thanh niên bà la môn về sự hộ trì chân lý, khám phá chân lý, và chứng đạt chân lý.
 thanh niên Bà-la-môn Kapathika ( Bharadvaja  ) , Bà-la-môn Canki 
checked
Bài kinh số 096 :  Kinh Esukārī (Esukārī sutta)
 Thế Tôn trú ở Savatthi (Xá Vệ), rừng Jetavana (Kỳ-đà-lâm)
 
 (P. Esukārīsuttaṃ, H. 鬱瘦歌邏經) tương đương
Uấtsấu-ca-la kinh.93 Nếu đạo Bà-la-môn do dựa vào chủ nghĩa giai cấp,
bắt buộc giai cấp vua chúa, thương gia và nô lệ phải phục vụ giai cấp
Bà-la-môn thì đạo Phật cho rằng người có đạo đức, trí tuệ, thích bố thí,
không giận dữ, tu tập pháp lành mới thực sự đáng được phụng sự
Đức Phật
checked
Phật giáo giới một thanh niên bà la môn về sự hộ trì chân lý, khám phá chân lý, và chứng đạt chân lý.
Bà-la-môn Esukari 
checked
Thế Tôn ở tại Rajagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm), tại Kalandakanivapa (chỗ nuôi dưỡng sóc).
 
 (P. Dhānañjānisuttaṃ, H. 陀然經) tương
đương
Phạm chí Đà-nhiên kinh.94 Phần lớn các hành động phi pháp của
con người phát xuất từ động cơ thỏa mãn các nhu cầu hưởng thụ bản
thân, nhưng khi chịu hậu quả thì con người đổ lỗi cho người thân và
hoàn cảnh bắt buộc. Vì nhân duyên nào đó, một hành động xấu đã được
gieo sẽ đẩy người đó vào tù ngục. Biết vậy, con người cần nỗ lực chuyển
hóa nghiệp duyên để hạnh phúc hôm nay và tươi sáng đời sau.
Đức Phật , tôn giả Sariputa
checked
Tôn giả Xá Lợi Phất giáo giới một bà la môn lấy cớ bận nhiều phận sự để biện minh cho sự lơ đễnh (tu học) của mình. Về sau, khi ông gần chết, Xá lợi phất hướng dẫn ông tái sinh vào cõi Phạm thiên, nhưng Ngài bị Phật quở vì đã làm như vậy.
Các tỳ kheo , Bà-la-môn Dhananjani
checked
Bài kinh số 098 :  Kinh Vāsettha (Vāsettha sutta)
Thế Tôn trú ở Icchanankala (Y-xa-năng -gia-la), tại khu rừng Icchanankala.
 
 (P. Vāseṭṭhasuttaṃ, H. 婆私吒經) tương đương
Kinh tập.95 Bài kinh giới thiệu 2 quan điểm trái ngược về khái niệm Bà-
la-môn. Nếu quan niệm truyền thống cho rằng Bà-la-môn là người sinh
ra từ gia đình Bà-lamôn thuần chủng 7 đời, thì quan niệm cấp tiến cho
rằng Bà-la-môn là người có giới hạnh. Vượt lên trên 2 quan điểm này, đức Phật đã mang lại nội dung mới cho Bà-la-môn, khi so sánh Bà-la-môn với
Thánh nhân trong Phật giáo 
Đức Phật
checked
Phật giải quyết một cuộc tranh cãi giữa hai thanh niên bà la môn về những đức tính của một bà la môn chân chính.
 hai thanh niên Bà-la-môn Vasettha và Bharadvaja 
checked
Bài kinh số 099 :  Kinh Subha (Subha sutta)
Thế Tôn trú ở Savatthi (Xá-vệ), Jetavana, tại tinh xá ông Anathapindika (Cấp Cô Ðộc).
 
 (P. Subhasuttaṃ, H. 須婆經) tương đương Anh Vũ
kinh
.96 Bài kinh phân tích sự giống và khác giữa người tại gia và người
xuất gia về phương diện hành động và nghề nghiệp. Nếu người tại gia
tạo ra giá trị sản lượng thì người xuất gia tạo ra giá trị tâm linh. Mặc dù
không hình thù, vóc dáng, các giá trị tâm linh có thể cứu giúp con người
giải quyết khổ đau
Đức Phật ( Những vị Bà-la-môn giàu sang ở Kosala, như Bà-la-môn Canki, Bà-la-môn Tarukkha, Bà-la-môn Pokkharasati, Bà-la-môn Janussoni, và thân phụ của Ông Todeyya và vua Pasenadi được nhắc đến)
checked
Phật trả lời những câu hỏi của một bà la môn trẻ và dạy cho anh ta con đường tái sinh lên Phạm thiên giới.
Thanh niên Bà-la-môn Subha Todeyyaputta (Bà-la-môn Pokkharasati  trú ở rừng Subhaga,  Punnika, người đầy tớ gái được nhắc đến )  
checked
Bài kinh số 100 :  Kinh Sangārava (Sangārava sutta)
Thế Tôn du hành trong nước Kosala với đại chúng Tỷ-kheo.
 
 (P. Saṅgāravasuttaṃ, H. 傷歌邏經).97 Bài
kinh phân tích về sự khác biệt giữa niềm tin tâm linh và sự thật tâm linh
trong thế giới tôn giáo. Các chất liệu và giá trị tâm linh chỉ có thật khi nó
thích ứng với thực tế và nó phục vụ tích cực cho cuộc đời
Đức Phật  ( 2 vị đạo sư Alara Kalama và Uddaka Ramaputta được nhắc đến)
checked
Một thanh niên bà la môn hỏi Phật về nền tảng dựa trên đó Ngài giảng dạy những điều căn bản của đời sống phạm hạnh.
Nữ Bà-la-môn Dhananjani, thanh niên Bà-la-môn Sangarava.
checked
Bài kinh số 100
Địa điểm
 

Tìm hiểu Kinh tạng Nikaya – Tâm học là cuốn sách Online giới thiệu về bộ kinh Nikaya , các bản dịch và chú giải được Tâm Học soạn từ các nguồn đáng tín cậy trên mạng internet.

Tuy nhiên đây vẫn là sách chỉ có giá trị tham khảo , mang tính chủ quan của tác giả  Tâm học.

Hits: 8