Skip to content
We'll be happy to help. Call Us Today: +1800-222-9876

Tìm kiêm

Search
Generic filters

Chuỗi tài liệu về Đức Phật , cuộc đời Đức Phật và các vị đệ tử ( Tài liệu sưu tầm từ nhiều nguồn có cả Phật giáo nguyên thủy và Phật giáo đại thừa) . Phần mốc thời gian được chia theo quan điểm riêng của Tamhoc.org .. Bài viết xem tốt nhất trên máy tính có độ phân giải trên fullHD và màn hình 14 inch trở lên .

Slide 1 Heading
Lorem ipsum dolor sit amet consectetur adipiscing elit dolor
Click Here
Slide 2 Heading
Lorem ipsum dolor sit amet consectetur adipiscing elit dolor
Click Here
Slide 3 Heading
Lorem ipsum dolor sit amet consectetur adipiscing elit dolor
Click Here
Slide Heading
Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Ut elit tellus, luctus nec ullamcorper mattis, pulvinar dapibus leo.
Click Here
Previous
Next

Các sự kiện và mốc thời gian trong thời kỳ Đức Phật

Lịch sử của đức phật

Ngài quán chiếu lại hai phương pháp đã hành trì: Tu mà còn hưởng thụ dục lạc thế gian, giống như nấu cát mà muốn thành cơm thì không thể được. Tu mà khổ hạnh ép xác càng làm cho thân thể suy kiệt, không thể thành tựu đạo quả.
1. Người khai sáng đạo Phật là ai?

Người khai sáng đạo Phật là đức Phật Thích Ca Mâu Ni.
2. Trước khi xuất gia, Ngài tên là gì? Con của ai? Ở nước nào?

Trước khi xuất gia, Ngài là Thái tử Sĩ Đạt Ta, con của vua Tịnh Phạn và hoàng hậu Ma Da, ở nước Ấn Độ.
3. Khi một người phàm ra đời thì gọi là “đầu thai”, nhưng đức Phật Thích Ca Mâu Ni ra đời, các nhà hiền triết dùng những từ ngữ gì? Ý nghĩa đó như thế nào?

Các nhà hiền triết dùng những từ ngữ:

– Đản sinh: Là sự ra đời vui vẻ, làm cho cuộc sống có ý nghĩa hơn.

– Thị hiện: Là hiện thân của một con người bằng xương bằng thịt, được sinh ra từ bụng mẹ giống như tất cả mọi người.

– Giáng sinh: Là từ chỗ cao quý mà hiện xuống một chỗ thấp kém hơn để sinh ra.
Ý nghĩa của ba từ trên nhằm ca ngợi sự tôn trọng và quý kính của một vị Phật. Ngài xuống trần để đem lại niềm an vui hạnh phúc cho chúng ta, giúp mọi người biết cách làm chủ bản thân nhờ thấu rõ chân lý cuộc đời.
4. Đức Phật đản sinh ngày nào?

Ngày rằm tháng 4 âm lịch, gọi là ngày Phật Đản.
5. Đức vua Tịnh Phạn đã cưới vợ cho Thái tử Sĩ Đạt Ta để sau này kế thừa sự nghiệp thế gian, mong con mình sống trong cung vàng điện ngọc vợ đẹp con ngoan. Vậy người vợ ấy tên gì? Sinh ra người con tên gì?

Người vợ là công chúa Da Du Đà La, con vua Thiện Giác. Người con là La Hầu La, lúc 7 tuổi theo đức Phật xuất gia.
6. Nguyên nhân gì khiến Thái tử Sĩ Đạt Ta xuất gia tìm cầu chân lý? Nhận thấy sự đau khổ của kiếp người là sinh già bệnh chết không có ngày cùng, Ngài muốn tìm một con đường giải thoát cho chúng ta, nên đã từ bỏ cung vàng điện ngọc, vợ đẹp con ngoan để sớm xuất gia tìm đạo.

 
 

7. Chữ Thích Ca Mâu Ni có nghĩa là gì?

– Thích Ca: Nghĩa là phát khởi lòng từ bi, thương người bình đẳng.

– Mâu Ni: Nghĩa là tâm hồn luôn trong sáng và yên tĩnh.

Thích Ca Mâu Ni nghĩa là người luôn có lòng từ bi cứu người giúp vật, mà không thấy ai là kẻ thù nên an nhiên tự tại giải thoát
8. Đầu tiên đức Phật tu theo phương pháp gì?

– Đầu tiên, Ngài tu theo hai vị thiền sư nổi tiếng thời bấy giờ nhưng quả chứng không được giác ngộ hoàn toàn.
– Kế đến Ngài tu theo phương pháp khổ hạnh, có khi mỗi ngày chỉ ăn một hạt mè, hạt bắp và phơi mình giữa trời mưa nắng hoặc giá lạnh. Nhưng kết quả chỉ làm cho cơ thể suy kiệt, tinh thần không sáng suốt nên không tìm ra chân lý.
9. Sau đó Ngài đã tu hành thế nào?

– Ngài quán chiếu lại hai phương pháp đã hành trì: Tu mà còn hưởng thụ dục lạc thế gian giống như nấu cát mà muốn thành cơm thì không thể được. Tu mà khổ hạnh ép xác càng làm cho thân thể suy kiệt, không thể thành tựu đạo quả.
– Ngài tìm ra phương pháp trung đạo ăn uống vừa đủ để nuôi thân này mà dễ dàng buông xả mọi dính mắc ràng buộc.

– Sau khi sức khỏe hồi phục, Ngài tắm gội sạch sẽ, rồi đến gốc cây Bồ đề ngồi thiền, thề nếu không chứng đạo quyết không rời bỏ chỗ này. Ngài ngồi thiền suốt 49 ngày đêm, chứng được tam minh lục thông và giác ngộ thành Phật hiệu là Thích Ca Mâu Ni.
10. Sau khi thành đạo dưới gốc cây Bồ đề, đức Phật bắt đầu truyền đạo. Buổi thuyết pháp đầu tiên diễn ra tại đâu?

– Tại vườn Lộc Uyển và ai là những người nghe pháp đầu tiên? 5 anh em Kiều Trần Như là bạn đồng tu khổ hạnh với Ngài trước kia.

– Bài pháp đầu tiên đức Phật thuyết giảng là gì? Bài Tứ Diệu Đế tức là bốn chân lý sống trong cuộc đời.

– Đức Phật đã thuyết pháp tất cả bao nhiêu năm? 49 năm hoằng hóa độ sinh.
11. Trong 49 năm thuyết pháp, đức Phật đã hóa độ những ai?

– Ngài hóa độ tất cả các hạng người, từ vua quan, quý tộc cho đến ngoại đạo, nô lệ, kỹ nữ, tướng cướp, những người thuộc giai cấp hạ tiện.v.v… với tinh thần bình đẳng không phân biệt.
12 Bảng ghi nhận các mốc thời gian quan trọng trong cuộc đời đức Phật Thích Ca Mâu Ni ra đời và nhập Niết bàn:

– Đản sinh: Ngày rằm tháng 4 âm lịch

– 19 tuổi xuất gia: Ngày 8 tháng 2 âm lịch

– 30 tuổi thành đạo: Ngày 8 tháng 12 âm lịch

– 80 tuổi nhập Niết bàn: Ngày rằm tháng 2 âm lịch
Thích Đạt Ma Phổ Giác

Thích Đạt Ma Phổ Giác


Những mốc dưới đây là do tác giả blog tự phân chia theo kiến giải , hiểu biết của mình

 

Mốc I : Hoàn cảnh trước khi Phật ra đời

Tiền thân Đức Phật Thích Ca

Đức Phật ( Đại hội Phật giáo Thế giới đã thống nhất cho rằng Siddhartha sinh khoảng năm 624 trước Công nguyên[8] và qua đời khi 80 tuổi (năm 544 TCN).)

Mốc II : Sự kiện Phật đản sanh

Đức Phật Đản Sanh 

 

Mốc III: Giai đoạn tuổi thơ của Đức Phật

Thời gian làm Thái Tử

 

Mốc IV : 19 tuổi giai đoạn – nguyên nhân xuất gia , bối cảnh ..( có sách nói năm 19 tuổi xuất gia, có chỗ nói 29 tuổi )

 Thời gian xuất gia học đạo

Mốc V : Những pháp môn tu , các vị thầy -Những năm tu khổ hạnh

 

 

Mốc VI : Thành đạo

 Đức Phật thành đạo

Đức Phật thuyết pháp lần đầu tiên

Mốc VII: Những vị đệ tử đầu tiên ( sau khi thành đạo ) , và việc thành lập tăng đoàn

Hạ thứ nhất tại Lộc Uyển (năm – 589)

Đến ngày trăng tròn tháng bảy dương lịch, Phật nhập Hạ[3]đầu tiên với mười vị đệ tử A-la-hán tại Lộc Uyển, trong làng Isipatana hiện nay là Sarnath. Hiện nay có chùa Mulagandhakuti do ngài Anagarika Dharmapala (Pháp Hộ) khởi công xây cất vào năm 1922 để kỷ niệm nơi Phật nhập Hạ lần đầu. Nơi đây là một địa điểm thiêng liêng của Phật giáo, là một trong Bốn Động Tâm (Nơi Phật giáng sanh, thành đạo, thuyết pháp lần đầu, và nơi Phật nhập niết bàn), vừa là nơi Phật chuyển pháp luân (thuyết pháp lần đầu), vừa là nơi xuất phát Giáo Hội Tăng Già với đầy đủ Phật, Pháp, Tăng

Năm mươi người bạn khác của ông Yasa xin xuất gia

Phật trao sứ mệnh hoằng pháp cho các vị Tỳ kheo

Ông Punna Mantàniputta và 29 người bạn xuất gia

Ông Uruvelà Kassapa, 2 người em, và 1000 đệ tử xuất gia

Đức Phật nói Kinh Lửa (Aditta Pariyaya)

 

Hạ thứ hai tại Venuvana (năm -588)

Phật độ vua Bimbisàra

Phật giảng năm giới của người cư sĩ

Phật kể chuyện cây bông sứ

Vua Bimbisàra cúng dường ngự uyển Venuvana

Hai ông Sàriputta, Moggallàna và 155 người bạn xuất gia

Phật thành lập tinh xá đầu tiên Venuvana

Kàludàyi thỉnh Phật về thăm vua Suddhodana

Phật độ ông Dìghanakha

Dư luận chống đối Phật tại Ràjagaha

Ambapàli gặp Phật

Phật về Kapilavatthu, ngụ tại vườn Nigrodha

Nandà xuất gia

Ràhula xuất gia

Phật thuyết pháp lần thứ ba trong hoàng cung

Phật đến thành phố Anupiya thuộc xứ Malla

Bhaddiya ngộ đạo

Devadatta biểu diễn thần thông trước Ajatasattu

 Hạ thứ 3 tại Venuvana (năm -587) 

Em bé cúng bánh bằng đất vào bát Phật

Bà la môn Akkosaka phỉ báng Phật

Ngoại đạo đào hầm lửa hại Phật

Mahà Kassapa (Ma ha Ca Diếp) xuất gia

Phật độ ông Sudattà Anàthapindika (Cấp Cô Độc)

Sudattà và Sàriputta đi Sàvatthi

Sudattà mua vườn của thái tử Jeta

Phật thọ trai tại vườn xoài của bà Ambapàli tại Vesàlì

Phật thọ trai tại cung điện các Vương tử Licchavi

Sàriputta rước Phật đi Sàvatthi

Con chó giữ hũ vàng

Phật dạy có bảy hạng vợ trên thế gian

Phật dạy có thương là có khổ

Phật độ vua Pasenadi

Phật cho người gánh phân tên Sunìta xuất gia

Vua Pasenadi và Tỳ kheo Sunìta

Phật đưa Tỳ kheo Nandà lên cung trời Đao Lợi

 

Hạ thứ 4 tại Venuvana (năm -586) 

Dân chúng Vesàlì cầu Phật đến trừ bệnh dịch tả

Mốc VIII : Trở về thăm vua cha khi vua Tịnh Phạn sắp băng hà ( tăng đoàn lớn mạnh)

. Hạ thứ 5 tại Mahàvana, thuộc Vesàlì (năm -585) 

Tranh chấp giữa hai xứ Sàkya và Koliya

Vua Suddhodana(Tịnh Phạn) băng hà vào năm -585, thọ 81 tuổi. Mahànàma ( 1 người a/e họ với Đức Phật) lên ngôi vua , sau này con gái của Mahànàma với 1 người tỳ nữ sinh ra Tỳ Lưu Ly Virudhaka (Vidùdabha)

Hoàng hậu Pajàpati Gotamì xin xuất gia

Hoàng hậu Pajàpati và 500 nương tử xuất gia tại Vesàlì

Cuộc đời đau khổ của sư cô Uppalavannà

 Hạ thứ 6 tại Jetavana (năm -584)

Tỳ kheo Uruvelà Kassapa(Ưu Lầu Tần Loa Ca Diếp) nhập diệt vào khoảng năm -584, thọ 125 tuổi.

Phật độ bà Khemà ở Ràjagaha

Đại đức Pindola Bhàradvàja biểu diễn thần thông

Đức Phật biểu diễn đại thần thông tại Sàvatthi

 

Hạ thứ 7 tại làng Sankassa (năm -583) 

Đức Phật thuyết pháp tại cung trời Đao Lợi

Pho tượng Phật đầu tiên

Làm sao trở thành Sakka, vua Trời Đao Lợi ?

 

Hạ thứ 8 tại rừng Bhesakala (năm -582) 

Ngoại đạo dùng cô Cincà vu cáo Phật

Chuyện ông bà Nakula gọi Phật bằng con

Hạ thứ 9 tại tinh xá Ghosita, Kosambi (năm -581) 

Bà Màgandiyà, thứ hậu vua Udayana, phỉ báng Phật

Nắm lá simsapà và Tỳ kheo Malunkyaputta

Tranh chấp giữa một vị kinh sư và một vị luật sư

Đại đức Bhagu gặp Phật tại thành phố Balaka

Đại đức Anuruddha gặp Phật tại núi Pàcìnavamsa

 Hạ thứ 10 trong rừng Rakkhita (năm -580) 

Phật an cư một mình trong rừng Rakkhita

Phật dạy xử sự đúng Chánh Pháp

Thất Diệt Tránh Pháp (Saptadhikarana samatha)

Phật độ bà Abhirùpa Nandà

 Hạ thứ 11 tại Ekanala, gần Ràjagaha (năm -579)

Chú bé chăn trâu Svastica xuất gia

Phật giảng kinh Chăn Trâu

Phật dạy sa di Ràhula trì giới

Đi tu cũng là lao động và sản xuất

Phật dạy Ràhula giữ chánh niệm trong lúc đi khất thực

Phật dạy Ràhula tu hạnh của tứ đại

Phật dạy Ràhula tu hạnh Từ Bi Hỷ Xả

Phật dạy Ràhula quán vô thường

Phật dạy Ràhula quán hơi thở

Hạ thứ 12 tại Veranjà, xứ Kosala (năm -578) 

Nạn đói tại Veranjà

Nên ban hành giới luật lúc nào ?

 

Hạ thứ 13 tại thành phố Càlika, xứ Koliya (năm -577)

Phật dạy cách tập sống một mình nơi thanh vắng

 

Hạ thứ 14 tại Jetavana (năm -576)

Nữ cư sĩ Visàkhà cúng dường tinh xá Đông Viên

Phật thuyết kinh Người Biết Sống Một Mình

Đức Phật khen đại đức Sangamàji

Phật dạy vua Pasenadi cách cúng dường tại tư gia

Phật dạy đám trẻ nghịch cua về lòng từ bi

 

 

 Hạ thứ 15 tại vườn Nigrodha, Kapilavatthu (năm -575)

Vua Suppabuddha bị đất nuốt

Vua Suppabuddha(Thiện Giác Vương) băng hà vào năm -575.

Ràhula đúng 20 tuổi, thọ Cụ túc giới

Phật dạy Ràhula quán 18 giới phân biệt

Phật dạy Ràhula quán 5 uẩn để trừ ngã chấp

Ràhula được cúng dường tinh xá riêng

Hạ thứ 16 tại thành phố Àlavì (năm -574) 

Phật độ quỷ dạ xoa Àlavaka (quỷ Khoáng Dã)

Hạ thứ 17 tại Venuvana (năm -573)

Có ai muốn mua thi hài người đẹp Sirima không ?

 

 Hạ thứ 18 tại tảng đá Càliya, xứ Koliya (năm -572)

Con gái người thợ dệt ngộ đạo

Phật truyền tâm ấn cho Mahà Kassapa (Niêm hoa vi tiếu

 Hạ thứ 19 tại Griddhakùta (năm -571)

Phật truyền tâm ấn cho Mahà Kassapa (Niêm hoa vi tiếu

Vị lương y Jìvaka

Phước điền y (sanghàti, áo tăng-già-lê)

. Hạ thứ 20 tại Jetavana (năm -570)

Sudinna, cha của Hạt Giống

Angulimàla xuất gia sau khi đã giết 999 người

Ànanda được chọn làm thị giả thường xuyên cho Phật

Đại đức Ahimsaka (Angulimàla) bị hành hung

Đại đức Ahimsaka cứu giúp một sản phụ

 Hạ thứ 21 tại Jetavana (năm -569)

Vua Pasenadi kết thân với vua Mahànàma

Bà Kisà Gotamì tìm xin hột cải để cứu con

Quán thân người như bong bóng nước

 Hạ thứ 22 tại Jetavana v Pubbàràma (năm -568) 

Phật nói kinh Tứ Niệm Xứ (Satipatthàna sutta)

Thế nào là quán thân trên tự thân ?

Cô Sundarì bị giết chôn tại Jetavana để vu cáo Phật

Đức Phật chăm sóc một khất sĩ mắc bệnh kiết

Các ni sư Mahà Pajàpati, Khemà và Dhammadinnà

Cuộc đời đau khổ của ni sư Patàcàrà

Phật thuyết kinh Quán Niệm Hơi Thở (Ànàpàna sati)

Tự sát không phải là tự giải thoát

 Hạ thứ 23 tại Jetavana (năm -567) 

Giáo lý là ngón tay chỉ mặt trăng

Giáo lý là chiếc bè đưa người sang sông

Ngôn thuyết pháp và thân thuyết pháp

Jìvaka hỏi Phật về ăn chay ăn mặn

Sư cô Subhà gặp tên du đãng

Phật nói kinh Phạm Võng (Brahmàjala sutta)

Lục sư ngoại đạo

Balaka Upàli xin xuất gia theo Phật

Thanh niên Bà-la-môn Sonadantà vấn đạo

Hạ thứ 24 tại Jetavana (năm -566) –

Cây Bồ-đề Ànanda ở tinh xá Jetavana

Mười hai nhân duyên (Paticca samuppàda[2])

Phật cho phép ăn sau giờ ngọ và giữ thức ăn qua đêm trong lúc bệnh

Thượng tọa Sàriputta bị vu cáo khinh khi một tu sĩ trẻ

Phật dạy pháp Tứ Y (Catvari pratisaranena)

Người tu sĩ như khúc gỗ trôi trên sông

Phật giảng về Tám Điều Giác Ngộ của Bậc Đại Nhân

Phật thăm khất sĩ Vakkali đang hấp hối

Phật dạy cách vượt qua các đau khổ

Vô minh, hành, thức và danh sắc trong 12 nhân duyên

Thế nào là Chánh Kiến ?

Thế nào là Chánh Định ?

Phật nói kinh Vu Lan Bồn (Ullambana sutta)

Người chết có hưởng được vật cúng tế không ?

 

Hạ thứ 25 tại Jetavana (năm -565) 

Punna Mantàniputta đi hoằng hóa tại xứ Sunaparantà

Phật thuyết kinh Hải Bát Đức

Những mầm móng chia rẽ không đáng ngại

Phật dạy Tam Pháp Ấn

Nên học giáo lý bằng tiếng mẹ đẻ

Hạ thứ 26 tại Jetavana (năm -564) 

Nên làm gì khi biết mình sắp chết ?

Bốn người mù sờ voi

 Hạ thứ 27 tại Jetavana (năm -563) 

Thầy Vangìsa hộ trì sáu căn

Các luận chấp và những câu hỏi siêu hình do đâu mà có

Hạ thứ 28 tại Jetavana (năm -562) 

Thượng tọa Ànanda và cô gái hạ tiện tên Prakriti

Phật nói kinh Thủ Lăng Nghiêm (Sùramgama sùtra)

Hạ thứ 29 tại Jetavana (năm -561)

Lòng từ bi của Phật đối với các khất sĩ còn non kém

Vị trời Rohitassa hỏi cách ra khỏi thế giới sinh tử

Hạ thứ 30 tại Jetavana (năm -560) 

Những câu hỏi không được Phật trả lời

Như Lai không từ đâu tới và cũng không đi về đâu cả[

+ La Hầu La mất vào khoảng 560 khi chưa đầy 50 tuổi ( wiki)

 Hạ thứ 31 tại Jetavana (năm -559) 

Phật nói kinh Khởi Thế Nhân Bổn

Phật giảng cách THÂM NHẬP Giáo Pháp

Phật nói kinh Sư Tử Hống

Mốc IX: Mười ba năm cuối cuộc đời Đức Phật tức năm Phật khoảng tuổi 66 -> 80 tuổi – căn cứ theo sự kiện A Xà Thế đoạt quyền vua Bình Sa

Năm 558 TCN ,A Xà Thế đoạt quyền vua Bình Sa (wiki)

Hạ thứ 32 tại Jetavana (năm -558) 

Phật nói kinh Kim Cang Bát Nhã Ba-la-mật

Hạ thứ 33, 34, 35 tại Jetavana (năm -557/ -555) 

Phật nói kinh Đại Bát Nhã Ba-la-mật

Hạ thứ 36 tại Jetavana (năm -554)

Bà Visàkhà than khóc với Phật về một đứa cháu mới chết

Người tu phải biết lượng sức mình

Hạ thứ 37 tại Venuvana (năm -553)

Devadatta xin thay Phật lãnh đạo giáo đoàn

Devadatta lập giáo đoàn riêng tại Gayàsìsa

Thái tử Ajàtasattu soán ngôi vua

Ajàtasattu và Devadatta âm mưu ám sát Phật

Phật thuyết kinh Quán Vô Lượng Thọ

Sàriputta và Moggallàna đến Gayàsìsa

Devadatta lăn đá hại Phật

Như Lai chỉ nói những lời có ích lợi cho người nghe

Devadatta thả voi say hại Phật

Vua Bimbisàra(Tần Bà Ta La, Bình Sa Vương) băng hà vào năm -553, thọ 66 tuổi. ( tài liệu khác)

Hạ thứ 38 tại Jetavana (năm -552) 

Phật thuyết kinh A Di Đà

Hạ thứ 39 tại Jetavana (năm -551)

Chiến tranh vừa kết thúc nhưng những tàn tích đau thương do chiến tranh gây ra còn ảnh hưởng sâu đậm trong lòng các chiến sĩ và dân chúng cả hai xứ Magadha và Kosala. Các vị khất sĩ bắt đầu lên đường hoằng pháp ở các vùng lân cận trú xứ của mình để an ủi, khuyên nhủ và khuyến khích dân chúng làm việc thiện, thương yêu giúp đỡ lẫn nhau, xoa diệu các tàn tích chiến tranh. Sau một thiên tai hay một thảm nạn, người ta càng thấy rõ cuộc đời tạm bợ, mạng sống vô thường, danh lợi, tài sản nay còn mai mất; người ta dễ dàng trở về đời sống nội tâm, nêu cao các giá trị tinh thần, hướng về đạo pháp. Đây là lúc thuận lợi nhất cho việc hoằng pháp của các vị khất sĩ.

 Hạ thứ 40 tại Jetavana (năm -550) 

Phật chỉ cách chấn chỉnh tư-pháp và kinh-tế

 

Hạ thứ 41 tại Jetavana (năm -549) 

Hạ thứ 42 tại Venuvana (năm -548)

Ni sư Mahà Pajapati(Ma Ha Ba Xà Ba Đề) nhập diệt vào năm -548, thọ 117 tuổi. ( quangduc)

Phật nói kinh Diệu Pháp Liên Hoa

Phật nói kinh Sa Môn Quả (Sàmanna phala sutta)

Hạ thứ 43 tại Jetavana (năm -547) –

Ni sư Pajàpati và Thượng tọa Ràhula viên tịch

Vua Pasenadi giết oan tướng Bandhula

Thượng tọa Ràhula(La Hầu La) nhập diệt vào khoảng năm -547, thọ 48 tuổi. ( quangduc)

Hạ thứ 44 tại Jetavana (năm -546) –

Thượng tọa Moggallàna(Mục Kiền Liên) nhập diệt năm -546.

Ni sư Yasodharà(Da Du Đà La) nhập diệt vào năm -546, thọ 78 tuổi.

Vua Pasenadi(Ba Tư Nặc) băng hà vào năm -546, thọ 78 tuổi ( quangduc)

Vua Pasenadi ca ngợi Phật

Vua Pasenadi băng hà ở Ràjagaha

Vua Vidùdabha tàn sát dòng họ Sàkya

Moggallàna bị ngoại đạo ám sát tại Ràjagaha

Devadatta qua đời tại Griddhakùta

Sứ giả của Ajàtasattu thỉnh ý Phật về việc cử binh đánh xứ Vajji

Sàriputta ca ngợi Phật

Cổng thành và bến đò Gotama tại Pàtaliputta

Hạ thứ 45 tại làng Beluva gần Vesàlì (năm -545)

Thượng tọa Sàriputta(Xá Lợi Phất) nhập diệt năm -545.

Phật bệnh nặng tại Beluva, gần Vesàlì

Phật dạy nương tựa nơi Tự Tính Tam Bảo

Thượng tọa Sàriputta viên tịch tại Nàlaka

 

Mốc X : Đức Phật nhập niết bàn

 Phật nhập niết bàn tại Kusinàgar (năm -544)

Phật báo tin sẽ nhập diệt trong ba tháng

Bát cháo nấm của người thợ rèn Cunda

Thế nào là làm vẻ vang Như La

Thượng tọa Upàvàna đứng che án chư Thiên

Lợi ích của sự chiêm bái Bốn Thánh Tích

Phật dạy chư tăng cách đối xử với nữ giới

Phật khen tài làm thị giả của Ànanda

Subhadda, người đệ tử xuất gia cuối cùng của Phật

Lời nói cuối cùng của đức Phật

Đức Phật viên tịch

Lễ trà tỳ tại Kusinàgar

Phân chia xá lợi Phật ra làm 8 phần

http://tamhoc.org/2020/11/18/bua-an-cuoi-cung-cua-duc-phat-thuan-da-cunda/

Thêm sự kiện vài trăm năm sau , thời kỳ vua A Dục.

Hits: 228

Website chia sẻ kiến thức , những tâm đắc về đạo Phật , cổ nhân xưa của 1 cá nhân ( không phải tổ chức , chùa ) . Mọi ý kiến đóng góp, khiếu nại xin gửi về hòm thư dragonknightmt@gmail.com . Điều khoản , nội quy

Copyright 2020 @ Thiết kế bởi DragonKnightMT